31.3.08

CHIA SẺ VỀ VIỆC THỰC HÀNH BÁC ÁI

Chương trình ca nhạc Paris by Night 90 giới thiệu cho chúng ta những khuôn mặt người nữ Việt Nam quả cảm, thành công và đầy lòng nhân ái. Trong đó người ta giới thiệu gương mặt của 1 Nữ tu và một Nicô tiêu biểu trong hoạt động bác ái. Tuy nhiên, hình ảnh ấn tượng nhất đối với mình lại đến từ một cô gái người Thuỵ Sĩ mang cái tên Việt: Tim. Cô Tim qua Việt Nam năm 20 tuổi trong chuyến đi khám phá thế giới. Cô đã dừng lại ở Sài Gòn được 15 năm nay… và có lẽ sẽ gắn bó cả đời mình với những người bất hạnh tại đất nước này. Thật cảm động khi một người trẻ, một cô gái châu Âu lại tìm gặp được từ nơi những người bất hạnh tại Việt Nam niềm hạnh phúc và lý tưởng cho đời mình. Cô đã lập nên ngôi nhà may mắn cho những trẻ em và người tàn tật bị bỏ rơi… mục đích là để họ điều kiện sống xứng đáng với phẩm giá của một con người. Bác Ái cũng là nội dung của sứ điệp Mùa Chay của Đức Thánh Cha Benedictô XVI. Ngài đã chọn chủ đề Bác Ái cho sứ điệm Mùa Chau năm nay (2008), dựa trên câu Thánh Kinh “Đức Kitô đã trở nên nghèo vì anh em” (2Cr 8, 9).

Thật vậy, Bác ái - tình yêu mà Chúa Kitô đem đến trần gian là một tình yêu có sức mạnh giải phóng, để con người thoát khỏi những điều xấu, hầu có thể sống trọn vẹn phẩm giá và hình ảnh của Thiên Chúa nơi mình. Chúa Kitô không đến để “bố thí” cho con người ơn Cứu Độ. Ơn Cứu Độ không chỉ là một sự phát chẩn từ trên cao nhưng được Nhập Thể và nhập thế trong cuộc đời hiện tại, nơi Chúa Kitô, qua cuộc sống và cuộc Khổ Nạn - Phục Sinh của Người.

Chúng ta có thể tìm thấy nơi Chúa Kitô một hình mẫu trọn hảo nhất cho tất cả những hoạt động bác ái. Chúa Kitô đã trở nên nghèo vì chúng ta. Người sống cùng, sống với, sống cho, và sống vì chúng ta. Người đồng cảm với nỗi thống khổ của con người. Người mang lẫy những nỗi thống khổ đó vào trong thân mình và qua đó, Người giải phóng nhân loại, trả lại cho chúng ta sự tự do đích thực của con cái Thiên Chúa, sống xứng đáng với nhân phẩm của con người.

Trong cuộc sống thường ngày của giáo hội, biết bao người giáo dân bình thường, âm thầm nhưng rất hiệu quả, đang tiếp nối công trình tình yêu của Chúa Kitô qua những hoạt động bác ái vô vị lợi. Những chia sẻ thật đơn sơ như vài lon gạo, ít gói mì, vài ngàn tiền thuốc… nhưng chất chứa cả tấm lòng muốn dấn thân, theo bước chân của Thầy Chí Thánh. Qua những cuộc thăm viếng, họ đồng cảm với tha nhân như Chúa Kitô đã đồng cảm với con người.

Bác ái như Chúa Giêsu là hiến trọn thân mình cho tha nhân, không chỉ qua những hành vi chia sẻ vật chất mà còn là sự đồng cảm, sự thấu hiểu trong tâm hồn và khả năng sống cùng, sống như, sống với những người bất hạnh. Chúng ta có thể cho tha nhân nhiều tiền, nhưng đó chưa là bác ái thật sự nếu chúng ta không sống được nơi bản thân mình những nỗi đau của họ. Bác ái không chỉ là “thương hại” và “bố thí” mà là “chia sẻ” và “đồng cảm” để góp phần giải phóng anh chị em mình khỏi những nỗi bất hạnh mà họ đang gánh chịu.

Như thế, để thực thi bác ái đính thực thật chẳng dễ chút nào. Không dễ nhưng không phải là không thể làm được. Bằng chứng là Chúa Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã trút bỏ vinh quang, để đến sống cùng với con người và cứu thoát con người (x. Pl 2, 6-8). Trong lịch sử của giáo hội, biết bao người nam, nữ đã dấn thân theo lời mời yêu thương của Chúa: thánh Phanxicô Assisi, thánh Vinh Sơn, Mẹ Têrêsa Calcutta… và biết bao nhiêu con người “vô danh”, âm thầm qua bao thế hệ...

Tóm lại, công tác bác ái Kitô giáo được định hướng từ tình yêu của Thiên Chúa và theo mẫu gương của Chúa Kitô, Đấng đã yêu thương và hiến mình vì chúng ta (x. Gl 2, 20) và mời gọi chúng ta nên chứng nhân cho tình yêu cứu độ của Người trong thế giới hôm nay. Vì chỉ khi chúng ta biết sống yêu thương, mọi người mới nhận ra hình ảnh đích thực của Chúa Kitô và nhận biết chúng ta là môn sinh của Người (x. Ga 13, 35). Bác Ái Kitô giáo là tình yêu cứu độ của Chúa Kitô. Thực thi Bác ái Kitô giáo không chỉ là trao ban cho tha nhân “cái mình có” mà còn là hiến tặng “cái mình là” như Chúa Kitô đã trao ban cho chúng ta.

26.3.08

TAM NHẬT THÁNH NĂM 2008

I. THÁNH LỄ TRUYỀN DẦU

Sáng thứ Năm Tuần Thánh, Đức Thánh Cha Benedicto XVI cử hành Thánh Lễ Truyền Dầu tại Đền Thờ Thánh Phêrô. Cùng đồng tế trong Thánh Lễ hôm nay còn có trên 30 hồng y, hơn 50 giám mục và gần 1.000 linh mục thuộc giáo phận Roma, đang làm việc hoặc học tập tại Thánh Đô. Ngoài ra, còn có nhiều ngàn tu sĩ, chủng sinh và giáo dân cùng tham dự. Thánh lễ được chuẩn bị cách tích cực bằng giờ Kinh Trưa, khiến tâm hồn mọi người lắng đọng, hướng lòng lên Thiên Nhan…

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha hướng về các giám mục và linh mục, ngài dặn dò các linh mục phải noi gương Linh Mục Thượng Phẩm là Chúa Kitô, để sống tinh thần phục vụ: phục vụ tình yêu, phục vụ chân lý và công bình với con tim mục tử của Chúa Kitô. Ngài nhấn mạnh việc phục vụ phải mang tâm tình yêu thương huynh đệ, bạn hữu, chứ không phải chỉ như một dịch vụ, một nghề nghiệp hay một bổn phận mà thôi.

Sau bài giảng, các giám mục và linh mục quây quần quanh vị cha chung để lập lại lời hứa trong ngày Phong Chức. Với việc lập lại lời cam kết này, mỗi người linh mục tuyên xưng lại lời cam kết dấn thân của mình trước mặt Chúa và giáo hội, để hiến thân phục vụ đoàn chiên Chúa trao phó.

Sau phần lập lại lời hứa của các linh mục, Đức Thánh Cha cử hành nghi thức làm phép Dầu Dự Tòng và Dầu Bệnh Nhân, sau đó ngài Thánh hiến Dầu Thánh. Điểm đặc biệt là trong nghi thức rước dầu, các dự tòng rước dầu để làm phép thành Dầu Dự Tòng, các bô lão rước dầu để làm phép thành Dầu Bệnh Nhân, các phó tế và các em chuẩn bị Thêm Sức rước dầu để Thánh Hiến thành Dầu Thánh. Sau khi phó tế giới thiệu từng loại dầu, Đức Thánh Cha đã làm phép và thánh hiến các loại Dầu. Qua nghi thức rước và giới thiệu, mọi người hiểu rõ hơn về ý nghĩa của từng loại Dầu Thánh và tham dự nghi thức cách tích cực hơn.

Tham dự Thánh Lễ Truyền Dầu tại Roma, nhưng tâm hồn đồng thời cũng hướng về quê hương, nơi đó linh mục đoàn cũng tụ họp bên Giám Mục trong Thánh Lễ Truyền Dầu, để cùng với các ngài, mình bày tỏ sự hiệp thông và vâng phục với Đấng Bản Quyền sở tại. Ước mong lời cam kết sống trọn vẹn thánh chức linh mục, không chỉ được lập lại theo nghi thức 1 cách máy móc và vô hồn, nhưng luôn được “làm mới” lại mỗi ngày, trong từng phút sống, để hình ảnh của Chúa Kitô Mục Tử luôn rạng ngời trong cuộc sống của mỗi người linh mục trong mọi môi trường phục vụ hôm nay.

II. HÀNH HƯƠNG LỘ ĐỨC

Kết thúc Thánh Lễ, mình tranh thủ về trường Urbano để lên đường đi hành hương Lộ Đức cùng với hơn 30 linh mục sinh viên, 5 thầy đại chủng sinh và gần 20 soeurs đang theo học tại Rôma. Chuyến hành hương do Đức Ông Giuse Đinh Đức Đạo tổ chức, là một dịp theo thông lệ hàng năm, có một lần “hội ngộ huynh đệ” giữa anh em du học tại Roma và Pháp. Những dịp hội ngộ huynh đệ luôn là dịp để nối kết tình thân ái, trao đổi và đồng cảm, dưới sự bảo trợ của Mẹ Maria.

Chuyến đi lần này nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức (1858 - 2008), nên cũng mang ý nghĩa hành hương về bên Mẹ và trong hướng đồng cảm với Giáo Hội Việt Nam trong dịp kỷ niệm 50 năm thành lập hàng giáo phẩm sắp tới (1960 - 2010). Hành trình hành hương này có thể là “hành xác” với một vài thành viên vì phương tiện di chuyển là “xe đò” và thời gian trên xe khoảng chừng 20 giờ!!! Ngay cả mình cũng thường đi xe, thế mà vẫn còn cảm thấy mệt mỏi, khó chịu… huống chi là một số soeurs… mới nhìn thấy xe là đã xanh mặt rồi!

Xin phó thác cho Chúa và Mẹ Lộ Đức chuyến hành trình của chúng con. Xin Mẹ đồng hành với chúng con và giữ gìn che chở. Đồng thời con cũng xin dâng lên Mẹ những ý nguyện của những người đã nhờ con cầu nguyện.

Sau 20 giờ trên xe, mọi người mệt nhoài, nhưng niềm vui vì được về bên mẹ, gặp gỡ anh em… trào dâng từ sâu thẳm tâm hồn. Anh em gặp nhau, tay bắt mặt mừng. Mình gặp lại Cha Ngà - người bạn học cùng lớp, cha Thanh - người cùng giáo phận Cần Thơ và cha Mạnh Cường - giáo phận Long Xuyên - cùng chung Đại Chủng Viện Cần Thơ. Tiếc là mình không gặp được cha Khắc Minh, Ngọc Minh, Thanh Hoàng và Luận do các ngài bận việc không đến Lộ Đức được. Vì có các soeurs và các thầy cùng tham dự, nên chương trình cũng có những giao lưu gặp gỡ chung, xen kẽ những cuộc gặp gỡ huynh đệ của các cha như thường lệ.

Thời tiết tại Lộ Đức những ngày này hơi khắc nghiệt vì mưa nhiều và trời lạnh, có khi còn có tuyết rơi, nên đi lại và cầu nguyện tại hang đá cũng gặp những khó khăn. Vì trong Tam Nhật Thánh, nên chúng mình cùng tham dự những nghi thức chung với các du khách hành hương, dù không trầm lắng như khi cử hành riêng theo nhóm, nhưng cũng mang lại trong tâm hồn những cảm xúc đặc biệt, vì được hoà mình vào với cộng đoàn đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Điểm đặc biệt là màn hoạt cảnh minh họa theo bài Thương Khó và những lễ vật dâng lên Chúa minh hoạ cho lời Sách Thánh trong nghi thức Canh Thức Vọng Phục Sinh.

Những giờ phút một mình bên Hang Đá Lộ Đức đem lại cho mình một cảm nghiệm sống động là mình được Chúa yêu thương cách đặc biệt và được Mẹ luôn chở che an ủi cách riêng. Với tràng chuỗi trên tay, mình ca ngợi Mẹ nhân lành, cùng với Mẹ để cảm tạ những hồng ân của Chúa ban tặng và dâng cho Mẹ tất cả những thao thức, những tâm tình và những lời khấn nguyện của nhiều người ở nhiều nơi gởi gắm mình dâng lên Mẹ. Riêng mình, mình cũng xin Mẹ thương gìn giữ trong những ngày còn lại của thời gian tại Roma và xin cho mình luôn trung thành trong Ơn Gọi tận hiến cho Chúa và Giáo Hội hầu sinh nhiều ích lợi cho các linh hồn. Mình dâng cho Mẹ tesi mình vừa mới khởi sự, phó thác cho Mẹ những dự định tương lai và khẩn cầu Mẹ cho mình được “theo Chúa cho đến trọn đời”.

Qua những chia sẻ, mình chú ý đến lời của Đức Ông Giuse Đạo: “chúng ta làm linh mục không phải vì tha nhân cần chúng ta cho bằng Chúa cân chúng ta cho tha nhân”. Như thế, người Linh Mục không được gọi chỉ để đáp ứng những nhu cầu của nhân loại, nhưng là được mời cộng tác vào công trình của Chúa tự trời cao. Khi xác tín như thế, người linh mục không nản chí khi đứng trước những chống đối và sự loại trừ của xã hội đối với hàng giáo sĩ. Người linh mục cũng không buồn khi có ai đó tỏ vẻ bất cần chúng ta, vì quan trọng là Chúa cần chúng ta để hoàn thành công trình của Người.

Một ấn tượng đặc biệt trong những ngày này là chúng mình được gặp, tiếp xúc, chia sẻ và dâng Thánh Lễ mừng Kim Khánh Linh mục của Cha Etcharren, Bề Trên Cả MEP (Hội Thừa Sai Paris), một linh mục đã sống và phục vụ tại Việt Nam 17 năm. Với con tim khắc hoạ lại trái tim mục tử của Chúa Giêsu, cha Etcharren là một tấm gương sáng ngời cho sự phục vụ trong yêu thương và khiêm nhu. Tình yêu của Cha đối với Việt Nam thể hiện cụ thể trong từng lời nói, cử chỉ, và trong cả những dự định cho tương lai: Cha nói tiếng Việt rất giỏi, cả những tiêng lóng, chơi chữ…; Cha ân cần gặp gỡ từng anh em trong thân thương như người cha với các con; cha ước mong sẽ về sống tại Việt Nam sau khi nghỉ hưu, dù nơi quê hương, có chị em, cháu chắt... Nhờ Cha, mà giáo hội Việt Nam nói chung, và các linh mục du học tại Pháp nói riêng, được giúp đỡ thật tận tình để hoàn thành chương trình học vấn.

Một người khác nữa tạo cho mình 1 dấu ấn đẹp đó là giám mục giáo phận quê nhà của cha Etcharren. Khi ngài đến nơi để cùng dự tiệc mừng Kim Khánh của cha Etcharren, thì anh em chúng mình đã “nhập bàn” vì tranh thủ thời gian lên đường trở về Lộ Đức. Khi chúng mình chưa kịp đứng lên chào ngài thì ngài đã đến từng người một để hỏi thăm xem học ở đâu, học môn gì… với niềm vui và sự quan tâm chân thành trên nét mặt. Một giám mục khá lớn tuổi, thay vì đến bàn ăn, thì lại đi chào hỏi từng người… Hình ảnh này để lại trong lòng mình một ấn tượng thật tốt về hình ảnh người mục tử “yêu” và “biết” chiên của mình “từng con một”!

Tam Nhật Thánh trôi nhanh nhưng những ơn lành của Chúa Phục Sinh nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Lộ Đức tràn trề, thấm đẫm và tồn tại mãi trong cuộc đời. Tối Chúa Nhật Phục Sinh, chúng mình trở về Roma với một tâm hồn tràn ngập bình an và niềm vui của Đấng Phục Sinh. Xin tạ ơn Mẹ đã cho chúng con những ngày hành hương thật ý nghĩa. Xin tạ ơn Mẹ đã dẫn đưa chúng con đến Lộ Đức, để sống tích cực Mầu Nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh của con Mẹ. Xin Mẹ tiếp tục đồng hành cùng chúng con trên mọi nẻo đường tương lai.


16.3.08

TẠ ƠN CHÚA THÁNH THẦN

Reeng... reeng....

- Alô! Cha ơi... Bà xã con bị bệnh rồi, đang trên đường đến bệnh viện. Xin cha giúp lời cầu nguyện cho bà xã của con nhá.
- Được rồi. Chúng ta cùng cầu xin Chúa Thánh Thần thêm sức mạnh, giúp chị vượt qua cơn đau và xin Người thánh hóa và ủi an...
Thế là chúng tôi, ở hai nửa quả địa cầu tâm đầu ý hợp cùng nhau cầu xin Chúa Thánh Thần.

Hết một đêm trắng trên xe và nằm chờ vật vã trước phòng khám của Đại Học Y Dược tại Sài Gòn, cuối cùng cũng đến phiên của Chị vào khám bệnh. Thật là hồng ân của Chúa Thánh Thần, Chị chỉ bị “thiếu máu” và suy nhược mà thôi, ngoài ra không có bệnh gì trầm trọng. Anh Chị rộn rã lên đường về quê. Nỗi lo lắng sợ hãi và mệt nhọc sau 1 đêm trắng biến tan như bọt xà phòng.

- Về tới nhà, lời đầu tiên mà Anh nhắc Chị là: “Lát nữa em đến nhà thờ để xin lễ tạ ơn Chúa Thánh Thần!”.
- Chị ngạc nhiên: “Anh nói gì kỳ vậy?! Có thấy ai xin lễ tạ ơn Chúa Thánh Thần bao giờ đâu?”.
- “Thì hôm qua mình xin ơn với Chúa Thánh Thần, hôm nay nhận được ơn, không tạ ơn Chúa Thánh Thần thì tạ ơn ai?” Anh trả lời gọn khô!
- Chị... bí... nhưng xem chừng còn ấm ức, nên nhấc điện thoại gọi cho mình: “Cha ơi, ông xã con bảo phải xin lễ tạ ơn Chúa Thánh Thần. Con thấy kỳ kỳ sao ấy! Có xin lễ như thế được không cha?”
- Được chứ. Được chứ. Quá được là khác! Đúng rồi, phải tạ ơn Chúa Thánh Thần!

Mình trả lời chị mà lòng thẹn thùng. Cái cảm giác tẽn tò của “người thầy” đang ba hoa, thao thao bất tuyệt về mớ kiến thức suông bị “học trò” dạy cho một bài học cụ thể về việc áp dụng những lý thuyết ấy vào trong thực tế.

Sau giây phút tịnh tâm, cảm giác thẹn thùng biến mất, thay vào đó là tâm tình tạ ơn Chúa vì một người giáo dân bình thường, lại là “đạo theo” mà có “lòng đạo” nhiệt thành, đức tin vững vàng và lòng mến sắt son đến thế. Tạ ơn Chúa Thánh Thần vì Người đã dạy mình một bài học thật cụ thể và sống động qua thái độ biết ơn chân thành của một người giáo dân.

Thật thế, với một cách thế rất đặc biệt, Chúa Thánh Thần hiện diện trong cuộc đời ngay từ lúc mình cất tiếng khóc oe oe chào đời. Người thánh hóa mình trong Bí Tích Rửa Tội khiến mình nên con của Thiên Chúa và phần tử trong Giáo Hội. Chúa Thánh Thần đổ tràn 7 ơn thánh sủng trên cuộc đời trong ngày mình lãnh Bí Tích Thêm Sức. Người tác động cách hữu hiệu trong Thánh Lễ khiến bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Kitô - lương thực thần linh nuôi hồn. Rồi trong ngày mình lãnh nhận thánh chức Linh mục, chính Chúa Thánh Thần thánh hoá và xức dầu cho mình tham dự vào chức Linh Mục thừa tác của Chúa Kitô. Và tiếp tục mãi như thế, Chúa Thánh Thần luôn hiện diện và ban ơn cho mình mỗi ngày để mình chu toàn sứ vụ Chúa trao phó cho đến khi mình dâng hy lễ cuối cùng của cuộc đời trong giờ phút trở về Nhà Cha.

Hoạt động thánh hóa của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội, trong thế giới và trong chính bản thân mình là điều không thể phủ nhận. Mình xác tín điều này. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên mình được nghe một người giáo dân ngỏ ý “xin lễ tạ ơn Chúa Thánh Thần”, nên nghe “kỳ kỳ sao ấy” cũng phải. Từ xưa đến nay mình vẫn thường nghe, thường nói, thường làm và thường dạy giáo dân phải “cầu xin Chúa Thánh Thần” trước mỗi công việc, trước mỗi biến cố, trước mỗi dự tính... để Chúa Thánh Thần thêm sức, hướng dẫn, thánh hoá và kiện toàn. Nhưng tuyệt nhiên sau những công việc và những biến cố, mình chẳng còn nhớ gì đến Chúa Thánh Thần nữa. Có chăng chỉ “tạ ơn Chúa”! Đành rằng khi ta tạ ơn Chúa thì lời tạ ơn dâng lên Ba Ngôi Cha-Con-Thánh Thần. Nhưng để nhớ đến Chúa Thánh Thần cách đặc biệt qua hành vi tạ ơn Người thì dường như chưa hề có.

Lạy Chúa Thánh Thần,
xin dạy con biết luôn chạy đến với Ngài
để được thêm sức và đỡ nâng
trong cuộc sống còn nhiều gai chông.
Xin dạy con luôn biết tạ ơn Ngài
trong từng biến cố, từng công việc và trong từng ngày sống của con.
Như thế, cuộc đời con mãi luôn là lời “tri ân”
vì con luôn cảm nhận rằng đời mình được bao bọc bởi biết bao hồng ân.

19.2.08

LINH ĐẠO ĐỐI THOẠI


Từ trung tuần tháng 12 năm 2007, bất chấp mưa dầm hay rét mướt, hàng ngàn người, từ linh mục, tu sĩ và giáo dân tại Hà Nội đã tham dự những buổi cầu nguyện cho việc yêu cầu chính quyền Hà Nội hoàn trả cho giáo hội Toà Khâm Sứ cũ đã bị chiếm dụng từ năm 1959. Thực ra, sự kiện này chỉ như một giọt nước tràn ly sau rất nhiều nỗ lực yêu cầu trả lại cơ sở này của giáo hội đã không được các bên hữu quan đáp ứng và để nó trôi vào quên lãng. Sở dĩ có “sự kiện Toà Khâm Sứ” trong những ngày qua là do trước đó thiếu sự đối thoại thực sự giữa chính quyền và giáo hội, nói đúng hơn là giáo hội rất nhiều lần mong muốn và đi bước trước trong việc đối thoại nhưng chính quyền lại lảng tránh, bưng tai bịt mắt, nên cuộc đối thoại để giải quyết rốt ráo vấn đề này (và nhiều vấn đề về tài sản khác của giáo hội như Thánh Địa La Vang, Giáo Hoàng Học Viện Piô X - Đà Lạt...) đã đi vào ngõ cụt.

Nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện, với sự can thiệp của Toà Thánh, cùng những cố gắng từ nhiều phía, chính quyền đã hứa trả lại cơ sở này cho giáo hội. Đặc biệt, với lá thư của Đức Hồng Y Bertone - Quốc Vụ Khanh - gởi Đức TGM Hà Nội, Toà Thánh đã mở ra một con đường đối thoại mới giữa giáo phận Hà Nội và chính quyền. Dầu cho chặng đường trước mắt còn dài và gai góc, nhưng sự kiện này cũng đã thắp lên một tia hy vọng mới trong những ngày Xuân Mậu Tý về việc giải quyết dứt điểm tài sản của giáo hội là Toà Khâm Sứ đang bị chiếm dụng.

Trong khi mọi người đang xôn xao bàn tán về “sự kiện Toà Khâm Sứ” tại Hà Nội mà trang báo điện tử Vietcatholic cập nhật từng giờ (trong khi hầu như báo chí tại Việt Nam im hơi lặng tiếng!), thì mình bị đánh động khi đọc được một trang “quảng cáo” dán tại trường: Tại Đại học Teresianum sẽ tổ chức khoá học về “linh đạo đối thoại” với những buổi trình bày về “văn hoá đối thoại”, “Thiên Chúa Ba Ngôi: nguồn gốc của sự đối thoại”, “tâm thế cho một cuộc đối thoại hoàn hảo”... Rồi khi cầm trên tay Sứ Điệp Mùa Chay 2008 của Đức Thánh Cha Benedicto XVI, mình lại càng bị đánh động hơn bởi câu Thánh Kinh mà ngài chọn làm chủ đề: “Đức Kitô đã trở nên nghèo vì anh em” (2Cr 8, 9).

Vì những lẽ này, mình quyết định trong Mùa Chay Thánh năm nay, sẽ suy niệm về “linh đạo đối thoại”. Có lẽ chủ đề đối thoại là chủ đề phổ biến gợi hứng cho nhiều người suy tư, nên mình chỉ xin ghi lại nơi đây những suy nghĩ và cảm nghiệm cá nhân như là một chia sẻ đơn sơ, diễn tả tâm tình khát khao muốn sống trọn vẹn Mùa Chay Thánh, trong hướng hiệp thông với giáo hội và liên kết với Mầu Nhiệm Khổ nạn và Phục sinh của Chúa Kitô.

Thật vậy, khi bàn đến vấn đề đối thoại, nhất là linh đạo đối thoại, các nhà tu đức thường hướng về Chúa Ba Ngôi như nguồn gốc và khuôn mẫu cho mọi cuộc đối thoại. Bức Icon nổi tiếng từ những thế kỷ đầu sau công nguyên diễn tả Ba Ngôi Thiên Chúa như 3 người nam trong một bàn tiệc, người này hướng về người kia với ánh mắt yêu thương trìu mến. Đặc biệt, bàn tiệc này vẫn còn một chỗ trống như một lời mời gọi của Thiên Chúa dành cho con người, để con người tham dự vào sự hiệp thông trọn vẹn của Ba Ngôi, sự hiệp thông này chỉ nảy sinh sau quá trình đối thoại chân thật.

Theo Thánh Kinh, Thiên Chúa đã ngỏ lời với nhân loại và đi bước trước trong hành trình đối thoại với con người: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1, 1-2). Chúa Kitô trở thành mẫu mực cho việc đối thoại qua hành vi tự hiến, tự hạ để có thể sống cùng, sống với và sống cho con người, nhờ đó con người tội lỗi được tái sinh thành con Thiên Chúa, vì Thiên Chúa cao sang đã “trở nên nghèo” vì chúng ta, nên giống chúng ta mọi đàng (trừ tội lỗi) để với ơn sủng của Chúa Thánh Thần và trong Thánh Tử Yêu Dấu, chúng ta có thể kêu lên: “Abba, Lạy Cha”. Như thế, qua Mầu Nhiệm của Ba Ngôi Thiên Chúa và Mầu Nhiệm Nhập Thể - Cứu Chuộc của Chúa Giêsu Kitô, chúng ta có thể tìm thấy mẫu mực hoàn hảo cho việc đối thoại.

Chúng ta không phải là những “Robinson” sống một mình trên hoang đảo, trái lại, con người luôn là một “hữu thể liên vị”: sống cùng, sống với, sống cho, sống vì và sống nhờ lẫn nhau. Như người xưa có câu: “vô tri bất mộ”, không biết thì không thể yêu! Nhưng làm sao hiểu nhau, làm sao biết nhau nếu không có đối thoại? Dẫu biết rằng đối thoại chính là điều kiện cần và đủ để có được sự hiệp thông trong yêu thương cách trọn vẹn. Tuy nhiên, trong thực tế của cuộc sống, việc đối thoại luôn là một hành trình chất chứa nhiều chông gai và cam go.

Trong đời sống linh mục, mình luôn được mời gọi và đòi buộc phải gắn kết với một “cộng đoàn”: linh mục đoàn, cộng đoàn giáo xứ. Nhất là trong giai đoạn này, mình càng phải ý thức hơn về tính cộng đoàn: cộng đoàn anh em linh mục sinh viên Việt Nam, cộng đoàn gần 200 linh mục sinh viên nơi mình đang lưu trú, cộng đoàn Liên Tu Sĩ Roma, đồng thời cũng không quên gắn bó với cộng đoàn giáo phận Cần Thơ thân thương, nơi đó có các Đức Cha, các cha, chủng sinh, tu sĩ nam nữ và tất cả bà con giáo dân. Làm sao đời mình giữ vững được những mối tương quan này nếu không nỗ lực biến đời mình thành chiếc cầu đối thoại vươn tới mọi thành phần?! Rõ ràng là mình còn phải cố gắng thật nhiều, phải hy sinh nhiều, phải từ bỏ nhiều, phải ra khỏi cái tôi ích kỷ và khép kín để có thể đến được với tha nhân.

Những cuộc tiếp xúc, những trao đổi với nhiều hạng người, những thảo luận luôn đem lại cho mình những bài học thật quý giá trong việc đối thoại. Có những cuộc trao đổi là một cơ hội đối thoại thực sự, nhưng cũng có nhiều kiểu lệch lạc trong khi đối thoại. Chẳng hạn như thái độ xu nịnh, vuốt đuôi, nói theo để làm mát lòng mát dạ người khác bằng những lời không thật hoặc chưa hết sự thật. Hay ở chiều ngược lại là những cuộc đối thoại giữa những “người điếc”, vì thái độ cố chấp, tự khép kín trong quan điểm của mình, khư khư bảo vệ nó mà không dám mở ra, không thèm đếm xỉa gì đến ý kiến của tha nhân. Thậm chí có cả những quy chụp, kết án người khác trong việc đối thoại, theo kiểu “cả vú lấp miệng em” hay theo kiểu “bới lông tìm vết”! Thật là khó khi phải đối diện với người mà vốn dĩ là “khắc khẩu” của mình, chứ đừng nói đến việc phải đối thoại với họ. Vì lẽ này mà cần phải có một “linh đạo” cho việc đối thoại. Con đường thiêng liêng này khởi nguồn từ Ba Ngôi Thiên Chúa, theo bước chân của Thầy Chí Thánh Giêsu và dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần. Nếu không bước đi trong “linh đạo đối thoại” này thì sẽ không có một cuộc đối thoại thực sự.

Mùa Chay là một lời mời gọi hoán cải, là mùa của những cuộc “trở về”. Với bản thân mình, lời mời gọi của Mùa Chay Thánh năm nay chính là lời mời gọi hoán cải trong khía cạnh đối thoại. Trở về trong hành trình đối thoại với Thiên Chúa để lắng nghe, thấu hiểu những sứ điệp của Người và để sống trong sự hiệp thông yêu thương của Ba Ngôi Chí Thánh. Trở về trong hành trình đối thoại với bản thân để sống trọn vẹn căn tính linh mục là yêu thương và hiến mình (x.Gl 2, 20) vì đoàn chiên để chúng “được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10) theo gương vị Mục Tử nhân lành là Chúa Kitô. Trở về trong hành trình đối thoại với tha nhân để cùng nhau xây dựng một cộng đoàn, một giáo hội, một xã hội tốt đẹp theo Thánh Ý của Thiên Chúa. Hành trình trở về này chỉ được thành toàn khi mình biết thực sự bước đi trong “linh đạo đối thoại”. Linh đạo này sẽ đạt được kết quả mỹ mãn nếu mình biết ghi nhớ và thực hành những quy tắc cho việc đối thoại sau đây, được rút ra từ việc suy ngắm gương mẫu đối thoại nơi Ba Ngôi Thiên Chúa và nơi Chúa Giêsu Kitô trong Mầu Nhiệm Nhập Thể - Cứu Chuộc của Người: Chân lý là mục tiêu; Tình yêu là động lực; Trung thực là bầu khí; Công lý là thước đo; Tự do là phương tiện.

Mùa Chay 2008



21.1.08

HÀNH TRÌNH ĐONG ĐẦY TÌNH YÊU VÀ HỒNG ÂN


Cuộc đời là một hành trình. Cuộc đời tôi là hành trình đong đầy tình yêu và hồng ân của Thiên Chúa. Trên hành trình tình yêu và hồng ân này, có những cột mốc ghi dấu cách đặc biệt những hồng ân mà Thiên Chúa đã thương ban. Xin ghi lại nơi đây những cột mốc đánh dấu từng chặng đường trong hành trình đời tôi như lời tạ ơn và tán tụng tình yêu diệu vợi của Thiên Chúa.

Tình yêu Chúa gọi con vào đời, khởi đầu hành trình yêu thương:

Hồng ân đón nhận sự sống : 24.03.1972
Hồng ân lãnh nhận Bí Tích Rửa tội : 16.04.1972
Hồng ân lần đầu tiên được Rước Chúa : 15.08.1978
Hồng ân lãnh nhận Bí Tích Thêm sức : 20.04.1984
Hồng ân được học hành trong hoàn cảnh nghèo khó của quê hương :
- Tốt nghiệp PTCS : 1986
- Tốt nghiệp PTTH : 1989
Hồng ân trong ngày Rước Lễ Trọng Thể : 20.11.1989

Tình yêu Chúa gọi con bước theo Đức Kitô trong lý tưởng “yêu thương và hiến mình” (Gl 2, 20) “cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10):
Hồng ân tham dự lớp Dự Tu Hạt Đại Hải : 1991-1992
Hồng ân tham dự lớp Dự Tu Giáo Phận Cần Thơ : 1992-1993
Hồng ân được sống và đào tạo trong môi trường ĐCV Thánh Quý từ ngày : 16.08.1993
Hồng ân trong Năm Thực tập Mục vụ tại Họ đạo Bôna : 28.07.1995 - 10.07.1996
Hồng ân lãnh nhận tác vụ Đọc Sách và Giúp Lễ : 15.01.1999
Hồng ân được gọi vào hàng Ứng viên Phó Tế : 25.06.1999
Hồng ân được lãnh nhận thừa tác vụ Phó Tế : 04.03.2000
Hồng ân trong ngày lãnh nhận Thánh Chức Linh Mục cùng với 32 anh em khác của khóa IIIa tại Đại Chủng Viện Thánh Quý, giáo phận Cần Thơ, do Đức Giám Mục Emmanuel Lê Phong Thuận đặt tay trao ban : 22.06.2000

Tình yêu Chúa sai con đi loan truyền Tin Mừng cứu rỗi:
Trong trách vụ phó sở tại giáo xứ Sóc Trăng : 17.08.2000 - 25.07.2004
Trong bước đường tu nghiệp tại Roma:
- Lên đường trong an bình và phó thác : 03.08.2004
- Học tiếng Italia tại Lugnano - Terni : 04.08.2004 - 21.09.2004
- Lưu trú tại Collegio Urbano - Vaticano : 22.09.2004 - 28.06.2007
- Lưu trú tại Collegio San Paolo - Roma : 19.09.2007 - 01.07.2009
- Học tại trường Đại học Giáo Hoàng Urbaniana : 10.2004 - 06.2009

- Trở về trong tâm tình tạ ơn : 1.7.2009
- "Tạm trú" tại Nhà Thờ Chánh Toà : 1.9.2009 - 1.3.2010
- Phó sở họ đạo Chánh Toà Cần Thơ : 1.3.2010 -5.4.2014
- Cha sở Họ đạo Cái Tắc : 6.4.2014 - 28.7.2018
- Cha sở Họ đạo Rạch Súc : 29.7.2018 - nay
- Dạy môn Luân Lý tại ĐCV Thánh Quý & Lâm Bích từ 2010-nay / Hv. Alphongsô từ 2019-nay
- Thành viên Ban thường huấn LM GP từ năm 2010-nay
- Thư ký HĐLM và HĐMVGP từ năm 2011- nay
- Đặc trách LM 5 năm đầu đời LM GP từ 2020 - 2025
- Thành viên Ban Cố Vấn GP từ năm 2023-nay
- Tổng đại diện GP Cần Thơ : 15.2.2025 - nay
- Đặc trách Uỷ ban Giáo sĩ Chủng sinh từ 15.2.2025 - nay

Quả thật, “hồng ân Chúa như mưa như mưa, rơi xuống đời con miên man miên man”. Những dấu ấn được ghi lại cách sơ lược trên đây nhằm diễn tả lời tuyên xưng của tôi vào tình yêu cao vời của Thiên Chúa. Xin được chia sẻ với bạn, mong được đón nhận sự trợ lực nhờ lời cầu nguyện, để đời tôi luôn mãi là lời tạ ơn trong khiêm nhu và vâng phục Thánh Ý của Chúa Cha - người Cha giàu lòng thương xót, theo dấu chân của Chúa Giêsu Kitô - Linh Mục Thượng Phẩm và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần - Đấng ban sự sống và tình yêu!

PHÊRÔ VŨ VĂN HÀI

9.1.08

MÙA GIÁNG SINH XA QUÊ HƯƠNG


MÙA GIÁNG SINH XA QUÊ HƯƠNG



Mùa Giáng Sinh lại về với cái lạnh cắt da nơi đất khách quê người. Có người bảo mùa đông đầu tiên thấy không lạnh lắm, vậy mà mùa đông này là mùa đông thứ tư nơi trời Tây rồi, sao lại cảm thấy “lạnh lẽo” hơn?! Có thể là do năm nay thời tiết có phần lạnh hơn năm rồi nhưng dường như đâu đó cũng phảng phất cái lạnh lẽo trong tâm hồn?

Với cái nhìn khách quan, Lễ Giáng Sinh ngày nay đã bị thương mại hóa. Mùa Giáng Sinh là mùa “đại hạ giá”, mùa mua sắm, mùa tặng quà, mùa du lịch... Theo một thống kê trên đài truyền hình “Rai 1” của Ý thì trong kỳ nghỉ lễ Giáng Sinh năm nay sẽ có 10 triệu người Ý đi du lịch trên tổng số chưa đến 60 triệu dân. Như thế, trong kỳ nghỉ Giáng Sinh và Năm Mới này 1 phần 6 dân Ý đi nghỉ hoặc đi du lịch. Dạo một vòng phố phường, mình thấy tràn ngập bánh trái, hoa đèn, hàng hoá ... như thể ai cũng tranh thủ bán cho hết vào dịp cuối năm.

Không khí chuẩn bị Lễ Giáng Sinh tại các nhà thờ có vẻ âm thầm lặng lẽ hơn ở Việt Nam. Không có cảnh tập dượt văn nghệ, không có cảnh tập trung nhiều người để dọn hang đá, sơn phết sửa sang nhà thờ... Có lẽ chỉ ở Quảng Trường Thánh Phêrô là có cảnh nhộn nhịp của việc chuẩn bị một hang đá thật lớn và cây thông Noel hàng trăm tuổi. Thông thường, người ta chỉ đến dự Lễ Giáng Sinh rồi mau chóng trở về cùng nhau quây quần bên mái ấm gia đình. Như vậy, trong khi tại Việt Nam, nhà thờ chính là điểm trung tâm của Đêm Giáng Sinh, thì ngược lại, bên Tây người ta chú trọng hơn đến “bữa tiệc gia đình” sau Lễ Giáng Sinh.

Trong dịp Lễ Giáng Sinh này, đại đa số các cha cùng chung Học Viện đã đến các xứ đạo của Ý để giúp mục vụ hoặc đi nghỉ ở nước ngoài. Còn mình nhận lời dâng Lễ Đêm tại một nhà Dòng nữ qua sự giới thiệu của cha linh hướng Học Viện. Chả biết Dòng đó lớn bé thế nào, xa hay gần... chỉ biết là “đúng 11g20 đêm sẽ có người tên Nicola đến đón cha ở trước cổng!” Đúng giờ mình ra cổng và thấy không phải một mà 3 anh chàng da đen dang đứng đợi. Sau phút trấn tĩnh, mình hỏi thăm xem có đúng người đón mình hay không rồi mới dám mở cổng. Tạ ơn Chúa, đó là 3 chủng sinh người Kenya đang học ở Roma. Họ đưa mình đến 1 nhà dòng nữ ở ngoại thành Roma để dâng Lễ Nửa Đêm. Nhà Dòng này có khoảng 15 soeurs mà mình phải gọi là “bà ngoại” hay “bà cố” vì người trẻ nhất đã ngoại thất tuần! Ngoài các soeurs còn có sự hiện diện của một số giáo dân nữa, nhưng chủ yếu cũng là những người lớn tuổi. Mình rảo mắt tìm kiếm mãi mới có thể tìm được 3 người có thể gọi là... giới trẻ. Tuyệt nhiên không có 1 em thiếu nhi nào.

Nhìn chung dân Roma sẽ lợi dụng kỳ nghỉ Giáng Sinh và Năm Mới để đi du lịch nơi này nơi kia như Thánh Địa Bêlem, những vùng núi cao để trượt tuyết..., trong khi du khách từ khắp nơi lại có dịp tuôn về Roma vào dịp này, vì so với những nơi khác tại châu Âu, Roma là thành phố “ấm áp” hơn cả, nhiệt độ thấp nhất cũng chỉ khoảng -1 hoặc 0°C mà thôi, hơn nữa lại không có tuyết và thường có “nắng ấm” mặt trời. Tuy nhiên điểm đặc biệt để du khách đổ về Roma vào dịp cuối năm chính là để viếng thăm Vatican, tham dự Thánh Lễ Giáng Sinh do Đức Thánh Cha chủ sự, ngắm nhìn hang đá khổng lồ tại quảng trường thánh Phêrô và nghe Đức Thánh Cha công bố sứ điệp Giáng Sinh cùng với Phép Lành cho thành Roma và cho toàn thế giới qua phương tiện thông tin đại chúng (truyền thanh và truyền hình). Trong dịp này Đức Thánh Cha cũng chúc mừng Giáng Sinh cho mọi quốc gia trên thế giới bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, trong đó có tiếng Việt. Khi ngài nói “chúc mừng Giáng Sinh”, mình nghe có lời hoan hô lớn tiếng như để bày tỏ sự hiện diện của dân Việt tại thánh đô.

Ngoài việc “hướng ngoại” để quan sát, tìm hiểu và học hỏi, mình dành nhiều thời gian để “hướng nội” nhằm suy niệm về Mầu Nhiệm Nhập Thể. Qua biến cố Giáng Sinh, Con Thiên Chúa trở nên con người để con người có thể thực sự trở thành con Thiên Chúa.

Thật là một ân huệ của Chúa ban khi trong thời gian chuẩn bị tâm hồn đón Chúa đến, mình được tham dự Thánh Lễ Kỷ Niệm 40 năm Linh Mục của Đức Ông Khả vào ngày 22.12.07. Thánh Lễ bằng tiếng Việt rất đơn sơ giản dị nhưng thật xúc động. Từng tiếng hát, câu kinh, lời chia sẻ và cả sự xúc động của Đức Ông đã khiến mình càng ý thức hơn về Ơn Gọi Linh Mục mà Chúa đã thương ban, dù mình thật bất xứng, bất tài. Lời hát nhập lễ khiến tâm hồn mình bồi hồi, cảm xúc dâng trào: “Xin cho lòng chúng con luôn mở rộng chờ mong Chúa đến.... Để Chúa đến trong cuộc đời, để Chúa đến mang ơn trời...” Vâng, Chúa chỉ có thể đến được khi ta biết “để” cho Người ngự đến. Hay nói theo ngôn từ của Thánh Augustino là để dựng nên ta thì Chúa không cần có ta, nhưng để cứu chuộc ta thì Chúa lại phải cần có ta.

Cuộc đời của mình được bao bọc bởi biết bao hồng ân của Chúa, qua Giáo Hội, qua gia đình, thân nhân, ân nhân, những người thân thuộc và qua mọi người mà mình gặp gỡ. Vậy mà thật hiếm khi mình cảm nhận sâu sắc những ân huệ đó để dâng lời tạ ơn Người và biến cuộc đời mình thành lời tạ ơn liên lỉ. Mình vẫn thường thoải mái cho phép những giá trị trần thế hiện diện trong cuộc đời mình nhưng chỉ thi thoảng mình mới biết thật sự mở rộng tâm hồn để Chúa hoàn toàn chiếm đoạt và điều hướng những hành vi lớn nhỏ trong cuộc đời.

Nhìn ngắm Hang Đá Bêlem, mình mong mỏi được nghe tiếng của Hài Nhi Giêsu thì thầm. Và trong tận thẳm sâu của tâm hồn, Hài Nhi Giêsu mời gọi mình chiêm ngắm thái độ của những con người hiện diện chung quanh Người trong Mầu Nhiệm Giáng Sinh.

Đức Maria:

Với lời thưa “xin vâng”, Mẹ đã đại điện cho nhân loại trở thành “đối tác” với Thiên Chúa trong công trình Cứu Độ của Người. Mẹ sinh hạ Con Thiên Chúa cho nhân loại. Mẹ đem ánh sáng của Đấng Cứu Độ cho cuộc đời tăm tối. Mẹ mang lại cho nhân loại đang sống trong âu lo chán chường niềm Hy Vọng lớn lao nhất. Mẹ là cầu nối giữa trời và đất. Nhưng Mẹ thực thi tất cả những điều này như một nữ tỳ, trong khiêm nhu, tin yêu và phó thác. Vậy, để Đấng Cứu Độ có thể đến được trong cuộc đời của mình, mình cũng được mời gọi sống tâm tình "xin vâng" của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa.

Thánh Giuse:

Thánh Giuse được gọi là “người công chính” vì đã biết tìm ra ý Chúa và thi hành trọn vẹn thánh ý của Người cho dù không hiểu hết được Thiên Ý nhiệm mầu. Người thợ mộc của quê nghèo Nagiaret biết buông bỏ cuộc đời mình cho Chúa sử dụng để rồi phải bôn ba khắp nơi: Bêlem, Ai cập rồi lại về Nagiaret. Là người chủ trong gia đình, nhưng thánh Giuse lại là người... ít nói nhất, đúng hơn là hoàn toàn thinh lặng. Chính trong sự thinh lặng của cuộc đời, thinh lặng liên lỉ, thánh Giuse mới có thể đón nhận và chu toàn ý Chúa. Thinh lặng làm ta nhạy cảm hơn trước lời mời gọi của Chúa, nhất là trong bối cảnh ồn ào của thế giới văn minh hiện nay, một thế giới xem chừng rất sợ sự thinh lặng.

Các mục đồng:

Họ là những người thất học, cơ hàn, chất phác, hay nói theo kiểu dân miền Tây nam bộ là những anh “hai lúa”, ngày ngày chỉ biết đến đàn súc vật, tối tối phải thức canh chừng... Trong cảnh nghèo cả tinh thần lẫn vật chất như thế, họ đã nhận được lời loan tin Đấng Cứu Độ đã Giáng Sinh. Đó chẳng phải là mẫu “người nghèo của Yahvé” mà Cựu Ước đã từng nhắc tới hay sao? Qua những mục đồng, Chúa muốn dạy mình một bài học thật quý giá: phải trở nên “nghèo”, trở nên “tay trắng như không” thì mới có thể gặp gỡ được Người. Cái “nghèo” của một tâm hồn ý thức mình không là gì, chẳng có công lênh chi để rồi có thể đến với Chúa chỉ với tâm lòng đơn thành. Và Chúa sẽ đong đầy hồng ân.

Những nhà chiêm tinh:

Dường như trái với những người mục đồng, những chiêm tinh gia là những người giàu có, có chức có quyền, thông thạo thiên văn địa lý. Nhưng điều đáng nói là tất cả những thứ họ có không phải là mục đích của cuộc đời. Khi đã nhận ra được dấu hiệu của Đấng mà họ hằng tìm kiếm, lập tức họ bỏ lại tất cả, lên đường tìm kiếm Người. Đấy chính là “tâm tình nghèo”, tâm tình của con người "khát khao chân lý" và sẵn sàng hy sinh tất cả để đón nhận Chân Lý tròn đầy. Chúa Hài Đồng cũng mời mình sống tâm tình của các nhà chiêm tinh để Người có thể “đến trong cuộc đời” mình. Mình được đi nhiều nơi, học nhiều thứ, được giáo dục những kiến thức đạo đời. Nhưng tất cả những gì mình có, vật chất cũng như tinh thần phải là “phương tiện” dẫn mình đến tới “nguồn chân lý” là chính Chúa Kitô.

Xin tạ ơn Chúa Hài Nhi Giêsu đã ngỏ lời với con trong Mầu Nhiệm Giáng Sinh, đã dẫn con đến với Ngài qua việc cho con nhận ra những con đường để gặp được Ngài của Đức Maria, của Thánh Cả Giuse, của các mục đồng và của những nhà chiêm tinh. Nếu con biết sống tâm tình “xin vâng” của Đức Maria, thái độ “thinh lặng” của Thánh Giuse, cuộc sống “đơn nghèo” của các mục đồng và tinh thần “khao khát tìm kiếm chân lý” của các nhà chiêm tinh, thì chắc chắn con sẽ được gặp gỡ Đấng Cứu Độ của cuộc đời con và cũng là Đấng Cứu Độ của toàn thể nhân loại.


Kỷ niệm Mùa Giáng Sinh năm 2007



8.1.08

KỶ NIỆM 5 NĂM THỤ PHONG LINH MỤC


ĐÔI DÒNG TÂM SỰ
NHÂN KỶ NIỆM 5 NĂM THỤ PHONG LINH MỤC CỦA KHOÁ IIIa
22.06.2000 - 22.06.2005


“Xin cảm ơn cha vì cha là Linh Mục!” Đây là câu nói của một giáo dân với một vị Linh Mục lớn tuổi. Người ta thường cảm ơn nhau khi nhận được một món quà hay một ân huệ. Người-giáo-dân cảm ơn người-linh-mục là vì họ cảm nhận được rằng người-linh-mục nọ chính là “món quà” dành cho mình. Quả thế, Ơn gọi Linh Mục chính là một món quà mà Chúa trao ban cho con người. Nói theo cha Chevrier thì linh mục là “tấm bánh cho người khác ăn”. Vâng, khi ai đó lãnh nhận chức linh mục là lãnh nhận một món quà lớn lao và nhưng không từ Thiên Chúa và người đó phải sống tâm tình tạ ơn, đồng thời phải biến cuộc đời của mình trong sứ vụ linh mục thành một món quà tốt-một tấm bánh thơm ngon bổ dưỡng cho tha nhân.
Dường như “chớp mắt” đã thấy 5 năm! Mình tròn 5 tuổi linh mục rồi. Lẹ ghê! Bao nhiêu kỷ niệm của 5 năm về trước chợt ùa về đòi mình phải dừng chân để lắng đọng và suy nghĩ về ơn gọi linh mục, về món quà cao quý mà mình lãnh nhận và về thái độ sống đời linh mục của chính mình.


I. DẤU ẤN KỶ NIỆM NGÀY PHONG CHỨC

Tháng Sáu… những ngày này 5 năm về trước : anh em lớp Phêrô Lê Tuỳ đang hối hả lo chuẩn bị cho ngày trọng đại nhất của cuộc đời, ngày Phong Chức Linh Mục cũng là ngày Kỷ niệm Ngân Khánh Giám Mục của Đức Cha Emmanuel, ngày 22.06.2000. Không khí của Đại Chủng Viện Thánh Quý nhộn nhịp lạ thường. Những công trình tượng đài, hoa viên, đường xá… ráo riết thi công cho kịp ngày lễ. Có anh em nói tếu : “cái gì cũng dành cho ngày 22.06!” Phần anh em thì lo áo lễ, thiệp mời, chương trình… ai nấy chạy ngược chạy xuôi với nụ cười luôn nở trên môi hiền.
Những ngày tĩnh tâm làm cho bầu khí dịu lại, tâm hồn lắng đọng bình an. Cảm nghiệm về sức người và sức Chúa : mình thì yếu hèn và hay thay đổi còn Chúa thì mạnh mẽ và rất mực trung thành. Người trung thành trong lời hứa : “Ta sẽ ban cho các ngươi những mục tử như lòng Ta mong ước.” Ngước nhìn cánh đồng truyền giáo mênh mông của vùng đồng bằng sông Cửu Long làm cho mình thêm can đảm : Chúa cần mình-dù mình không xứng đáng-để trở thành cây cầu nhỏ bé nối đất trời và nối những tâm hồn. Mình thầm xin Chúa cho mình là cây-cầu-tre đơn sơ nhưng đừng bao giờ gãy-mục. Mình xin là cây-cầu-dừa chất phác nhưng đừng là cầu-dừa-trơn-trợt.
Đêm canh thức 21.06 : cả ĐCV không ngủ! Và chắc là còn rất nhiều người nữa ở khắp nơi cùng thức trắng đêm này. Bởi lẽ đợt Phong Chức này có tới 33 tân linh mục thuộc 3 giáo phận Cần Thơ, Vĩnh Long và Long Xuyên. Nhiều người thân đã đến ĐCV từ chiều hôm trước khiến bầu khí đã nhộn nhịp càng nhộn nhịp hơn. Rất nhiều người nữa phải lên đường từ chập tối hay nửa đêm để kịp tham dự Thánh Lễ Phong Chức vào lúc 6 giờ sáng ngày 22.06.2000.
Đêm ấy mình chỉ chợp mắt được một chút vào lúc 3 giờ sáng! Buổi tối lo sắp xếp những chuyện cần thiết và đón khách đến tận khuya. Mình tranh thủ được một quãng thời gian ngắn ngủi vào Nhà Nguyện B để cầu nguyện với Chúa Giêsu Thánh Thể. Thời gian ngưng đọng! Mình lo sợ, nhưng cảm nhận được sức mạnh nâng đỡ của Chúa và tâm hồn cảm nếm được sự bình an.
Từ 4 giờ sáng, không khí của ĐCV ngập tràn người và nụ cười. Dòng người tuôn về ĐCV mỗi lúc một đông. Đến 6 giờ sáng đoàn người đã gần đầy sân bóng đá của ĐCV, ước chừng 7 ngàn người.
Thánh lễ diễn ra thật trang trọng và sốt sắng trong niềm hân hoan và tâm tình cảm tạ. Trong bài giảng, Đức Hồng Y GB. Phạm Minh Mẫn (khi đó còn là TGM) đã nhìn đến cánh đồng truyền giáo mênh mông của vùng đồng bằng sông Cửu Long và đặt niềm hy vọng vào các linh mục trẻ trung của thiên niên kỷ mới. Ngài nhắc nhớ anh em chúng mình cần phải yêu Chúa Giêsu nhiều hơn, vì càng yêu Chúa Giêsu thì càng gắn bó với Giáo Hội, càng biết chăm sóc đoàn chiên Chúa trao và ngày càng nhiệt thành trong công tác rao giảng Tin Mừng.
Anh em chúng mình được lãnh nhận thiên chức linh mục đúng vào Đại Năm Thánh 2000, nhằm ngay dịp kỷ niệm Ngân Khánh Giám Mục của Đức Cha Emmanuel, đó thật là một dấu ấn lịch sử không thể phai mờ trong ký ức. Mãi mãi mình không bao giờ quên được những tâm tình sâu lắng, những hình ảnh sống động của ngày hôm ấy. Với ơn Chúa, anh em mình hăng say toả đi khắp mọi nẻo đường trên cánh đồng truyền giáo rộng lớn mà thật dễ thương như đặc tính chơn chất của con người nam bộ.

II. NHÌN LẠI NĂM TUỔI ĐỜI LINH MỤC

Tuổi lên 5 là tuổi … vào mẫu-giáo. Năm tuổi linh mục chẳng có gì để kể công lênh. Nhưng cần nhìn lại để một lần nữa cùng nhau cảm tạ hồng ân! Đồng thời mình cũng cần dừng chân để “trở về” với tình yêu ban đầu, cần nhìn lại sám hối vì biết bao lỗi lầm yếu đuối…
Ra trường rồi, anh em mình mỗi người mỗi ngả. Có anh em đã 5 năm trôi qua mà chưa một lần gặp lại. Ba mươi ba anh em trải ra trên địa bàn 10 tỉnh của vùng sông nước, khó gặp nhau là phải. Dẫu sao anh em mình cũng nhiều lần cố gắng tạo những cơ hội để cùng nhau tĩnh tâm, cầu nguyện, thăm viếng, du ngoạn… Thật đáng quý tình nghĩa đệ huynh. Càng xa nhau mình lại càng thấm thía rằng tình huynh đệ linh mục thật là cần thiết và là nguồn trợ lực lớn trên hành trình theo Chúa Kitô-Linh Mục Thượng Phẩm để yêu thương và hiến mình cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào.
Nhiều người trong anh em mình thành công trong công tác Mục Vụ. Có vị là “cha xứ”. Có vị xây nhà thờ. Có vị dọc ngang tung hoành... Nhưng cũng có người trong anh em mình gặp khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, có một điểm đáng mừng là đến nay cả 33 anh em chúng mình vẫn còn “nguyên vẹn”! Đây chẳng phải là điều đáng để ngợi khen và để tạ ơn Chúa sao? Nhất là trong anh em chúng mình có những “bậc đáng kính” như “già Hội” chẳng hạn. Mình vẫn hay nhớ lại câu chuyện cha giáo Phụng Vụ kể về “già Hội” như một nhắc nhở chính mình phải trung thành với những giờ thiêng liêng hơn nữa. Câu chuyện như vầy : Một ngày đẹp trời, Cha giáo bất ngờ vào thăm nhà thờ Xuân Hòa. Chuyến đò cập bến khoảng 2 giờ trưa. Khi vào đến sân nhà thờ thì cha giáo gặp “già Hội” ôm sách PVGK từ nhà thờ bước ra. Cha giáo liền phán: “Ít ra lớp này cũng còn được một anh đạo đức sốt sắng!”
Nói tóm lại, thời gian 5 năm trôi “cái vèo”. Trong thời gian 5 năm ấy có biết bao nhiêu “tình”: Tình Chúa, tình người. Trong 5 năm ấy cũng có biết bao nhiêu “tội”: tội với Chúa, tội với người... Nhưng trên hết: tất cả là hồng ân! Ý thức hồng ân của Chúa thì bao la và tội lỗi của mình lại ngập tràn... để biết sống khiêm tốn và phó thác hơn, để dễ cảm thông và thứ tha hơn.
Có người hỏi : năm nay cha có ăn mừng kỷ niệm 5 năm LM không? Mình trả lời: Có, ăn lớn lắm, nhưng là “ăn năn” không hà! Thật thế, mình dành nhiều giờ hơn kể từ đầu tháng Sáu để hiện diện trước Thánh Thể. Nơi Thánh Thể, Chúa Giêsu mời gọi mình giũ bỏ mọi thứ mặt-nạ để trở về với con người thực của mình, để thấy mình yếu hèn bé bỏng, để thấy “hồng ân Chúa như mưa như mưa, rơi xuống đời con miên man miên man”. Những lúc âm thầm lặng lẽ bên Chúa Giêsu Thánh Thế đã cho mình một cảm nghiệm sống động là: đời linh mục cần đến Bí Tích Thánh Thể biết bao và con người linh mục cần phải trở nên dấu-chỉ-Thánh-Thể-sống-động biết là ngần nào!

III. BÍ TÍCH THÁNH THỂ VÀ CON-NGƯỜI-LINH-MỤC

Khi ở Chủng Viện, mình Viếng Thánh Thể theo “chuông”. Ra trường rồi thì thói quen tốt lành ấy cũng dần biến mất vì thiếu “chuông”. Nhiều lần quyết tâm rồi đâu lại vào đấy, “vũ như cẩn; nguyễn y vân”! Những giờ chầu Thánh Thể ngày càng thưa thớt. Cuộc sống linh mục dường như chỉ gón gọn trong “việc bổn phận”, trong “công tác mục vụ” mà thôi. Ngay cả Thánh Lễ và Các Bí Tích, mình cử hành tuy cũng thấy sốt sắng đấy nhưng có vẻ như là sốt sắng vì giáo dân hơn là vì mình. Những lúc ấy, mình thường tự nhủ: giúp cho người khác được gặp Chúa là mình hạnh phúc rồi. Thế nhưng mình lầm! Vì rằng, trước hết, bản thân người linh mục phải cần gặp gỡ Chúa một cách cá biệt và thâm sâu, rồi sau đó người linh mục mới có khả năng giúp cho tha nhân tìm đến và gặp gỡ được Người.
Trong bài giảng đầu tiên sau khi lên ngôi giáo hoàng, Đức Thánh Cha Benedicto XVI đã nói: "Thánh Thể là trung tâm đời sống Kitô hữu và nguồn mạch sứ vụ rao giảng tin mừng của Giáo Hội.”
Thật vậy, Thánh Thể là sự gặp gỡ và sự hiệp thông của người Kitô hữu với Ba Ngôi Chí Thánh. Đó là trung tâm sự sống. Đó là nguồn mạch sự sống. Đó là chóp đỉnh sự sống. Sự hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh là định nghĩa rõ nhất của từ “thiên đàng”. Điều lạ lùng là chúng ta có thiên đàng trong mỗi Thánh Lễ.
Lạ lùng chưa : Thiên Đàng hiện diện giữa chúng ta trong từng Thánh Lễ, phép lạ xảy ra trên đôi tay của linh mục hằng ngày trên Bàn Thờ. Cho dù đôi tay ấy, tâm hồn ấy có bất xứng, có yếu hèn, có bé nhỏ đến đâu thì Phép Lạ Thánh Thể vẫn xảy ra. Bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô nhờ lời truyền phép của một linh mục cũng tầm thường và yếu đuối như bao người.
Đức Thánh Cha cũng đã kêu gọi mỗi linh mục chúng ta: “Sự sống thiêng liêng của chúng ta chủ yếu tùy thuộc vào Bí Tích Thánh Thể. Không có Thánh Thể, đức tin và đức cậy chết dần, đức bác ái ra nguội lạnh. Do đó, hỡi các bạn thân yêu, tôi khuyên các bạn luôn chú trọng đến phẩm chất của việc cử hành Thánh Thể, cách riêng những cử hành thánh thể chúa nhật, hầu ngày chúa nhật thật sự là ngày của Chúa và ban một ý nghĩa đầy đủ cho các biến cố và các hoạt động của mọi ngày”.
Đúng ra, mỗi khi dâng Thánh lễ, mình phải “run như run thần tử thấy long nhan”, phải dạt dào cảm xúc thánh thiêng vì Mầu Nhiệm vĩ đại đang diễn ra trên đôi tay bất toàn của mình. Chúa Giêsu trở nên yếu đuối khủng khiếp đến độ mình phán một lời thì Người liền xuất hiện! Có lẽ vì phép lạ nhiệm mầu diễn ra hằng ngày nên nhiều lúc mình không còn cho đó là phép lạ nữa, mà coi đó là chuyện bình thường, chuyện đương nhiên như bao nhiêu điều khác vẫn xảy ra hàng ngày trong cuộc sống. Bây giờ mình mới hiểu tại sao cha thánh Pio-Năm-Dấu lại có thể dâng một Thánh Lễ dài 3-4 giờ mà vẫn có rất đông người đến tham dự. Đơn giản là vì ngài đã thực sự bị Chúa Giêsu Thánh Thể chiếm đoạt và mọi người tham dự Thánh Lễ đều nhận ra được sự hiện diện sống động của Ba Ngôi Cực Thánh qua từng lời cầu nguyện, cử chỉ, thần thái siêu thoát của Cha Pio trong khi cử hành Mầu Nhiệm Đức Tin.
Nhờ biết gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu trong Thánh Lễ và trong những giờ chầu Thánh Thế hằng ngày, người linh mục biến cuộc đời mình nên như một tấm bánh thơm ngon, biết bẻ ra để trao ban cho con người hôm nay. Thánh Lễ phải là đỉnh cao của ngày sống. Giờ chầu Thánh Thể phải là dấu nhấn quan trọng trong ngày. Chuẩn bị tâm hồn và thể xác thật chu đáo để dâng Thánh Lễ, siêng năng Chầu Thánh Thể mỗi ngày là những việc không thể coi nhẹ trong đời linh mục. Ước mong sao sau khi tham dự Thánh Lễ mà mình cử hành, người giáo dân có thể nói được “Chúa nhập vào cha”! Vâng hãy để cho Chúa Giêsu nhập vào, chiếm trọn tâm hồn và cả cuộc sống mình, nhất là trong Thánh Lễ và trong giờ Chầu Thánh Thể mỗi ngày.

IV. THAY LỜI KẾT

“Chúng tôi không hối tiếc vì đã là linh mục!” Vâng, lời xác quyết này của thần học gia Karl Rahner cũng là lời xác quyết của anh em linh mục lớp Phêrô Lê Tuỳ chúng mình. Trong cuộc đời linh mục, mình còn nhiều khuyết điểm và yếu hèn, nhưng mình không hối tiếc, không ân hận vì “lỡ làm cha”. Với ơn Chúa, mình không muốn tháo lui mà muốn tiến về phía trước, dẫu cho tương lai không biết thế nào. Chỉ biết chắc rằng: Chúa luôn yêu thương mình và hằng ngày vẫn tiếp tục mời gọi mình cất bước theo Đức Kitô trên hành trình tung gieo hạt giống Tin Mừng Nước Trời.
Mai ngày, không biết mình có còn yêu Chúa nhiều như những ngày đã qua? Mai ngày biết đâu mình còn vấp ngã nhiều hơn trong sứ vụ? Mai ngày, rất có thể mình chẳng làm nên trò trống gì…thậm chí có thể mình cũng chẳng còn hăng say như thời gian đầu đời linh mục?! Tuy nhiên, mình tin rằng Chúa luôn yêu thương mình, Giáo Hội luôn ấp ủ mình, anh em linh mục, tu sĩ, giáo dân luôn trợ lực mình. Tin tưởng và tín thác vào Chúa, vào Giáo Hội và vào lời cầu nguyện của mọi thành phần dân Chúa, một lần nữa mình xin lập lại lời của cha Karl Rahner “tôi không hối tiếc vì đã là linh mục!”
Hướng về Đức Trinh Nữ Maria, Người-Nữ-Thánh-Thể, Mẹ của hàng linh mục, anh em chúng mình phó thác cuộc đời và sứ vụ linh mục trong vòng tay từ-mẫu của Mẹ. Mẹ đã dõi theo Chúa Giêsu Linh Mục trên đường rao giảng Tin Mừng, xin Mẹ cùng đồng hành với anh em chúng con trên bước đường Truyền Giáo. Mẹ đã ôm xác Người Con dấu yêu trong vòng tay dịu dàng, xin cũng vỗ về chúng con mỗi khi chúng con gặp thử thách gian nan. Mẹ đã ở giữa các Tông Đồ để cùng đón nhận Ngôi Ba Thiên Chúa, xin cùng chúng con cầu nguyện mỗi ngày để chúng con được ơn can đảm và khôn ngoan của Chúa Thánh Thần.
Cuối cùng, anh em chúng mình hãy cùng nhau cất lên lời ca như chúng mình đã cùng hoà giọng trong Lễ Phong Chức vào ngày này 5 năm về trước: “Xin cho con dám hiến tế cuộc đời, dám đi vào một cuộc phiêu lưu, dám xin vâng, dám lên đường, dám trả lời lạy Chúa con đây. Xin cho con dám dấn bước theo Ngài dẫu trên đường còn nhiều chông gai, dám hy sinh, dám quên mình, dám sẵn sàng thực thi Ý Ngài. Xin cho con trở nên của lễ, sát tế mỗi ngày để kính dâng Cha. Xin cho con trở nên nhỏ bé, để Chúa lớn lên trong con từng ngày…”

Roma, ngày 22.06.2005