10.4.11

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY


1. Bảy dấu lạ trong TM theo thánh Gioan: Nước hoá thành rượu (Ga 2,1-12), chữa lành con của một sĩ quan cận vệ nhà vua (Ga 4,46-54), chữa lành người bị bệnh bất toại (Ga 5,1-18), hóa bánh ra nhiều (Ga 6,1-15), đi trên nước (Ga 6,16-21), chữa lành người mù từ thuở mới sinh (Ga 9,1-40), cho Lagiarô sống lại (Ga 11,1-44). Những dấu lạ theo thánh Gioan đều mang ý nghĩa đặc biệt, hướng về cuộc khổ nạn và phục sinh Chúa Giêsu Kitô. Dấu lạ thứ 7 là dấu lạ lớn nhất, dấu lạ cuối cùng để dẫn chúng ta đến với nguồn sống là chính Chúa Kitô Phục Sinh.

2. Trong dấu lạ thứ 7 này, chúng ta hãy để ý đến 3 mệnh lệnh của Chúa Giêsu:

- Mệnh lệnh thứ nhất: “hãy đẩy tảng đá ra”. Trong ngôi mộ đậy kín dĩ nhiên là sự chết, là tối tăm, là lạnh lùng, là xa cách. Thật vậy, trong cuộc đời chúng ta đôi khi mình cũng tự chôn mình trong sự chết, trong tối tăm, trong lạnh lùng, trong xa cách như vậy. Cuộc đời ta như có tảng đá lớn đè bẹp, khiến chúng ta bị chết ngạt, bị tách biệt với tha nhân. Tảng đá đè bẹp chúng ta có thể là tội lỗi, là đam mê, là tính ích kỷ, là thái độ cố chấp của mình. Hãy để cho Chúa đưa ra mệnh lệnh với cuộc đời mình: hãy đẩy tảng đá đi! Hãy đẩy khỏi cuộc đời chúng ta sự dữ, sự tội, sự ích kỷ. Hãy để cho tha nhân giúp mình đẩy những gì đang đè nặng cuộc đời mình. Hãy xăn tay áo lên để giúp tha nhân đẩy những tảng đá đang đè nặng cuộc đời họ. Đẩy tảng đá ra là bước khởi đầu của hành trình phục sinh!

- Mệnh lệnh thứ 2: “hãy ra đây”. Mệnh lệnh nhắm trực tiếp đến Ladarô. Mệnh lệnh khiến anh bật dậy như chiếc lò xo. Nhưng điều cần trước tiên là anh phải nghe được mệnh lệnh của Chúa. Phải có con tim rung động trước Lời Chúa, phải có thái độ sẵn sàng nghe theo mệnh lệnh của Người. Mệnh lệnh đó cũng chính là lời gởi đến mỗi người chúng ta. Hãy nghe Lời Chúa. Hãy hiểu lời đòi hỏi của Chúa. Hãy có con tim rung động trước lời mời gọi của Chúa. Hãy dám thự thi lời Chúa trong cuộc đời mình. Điều này có nghĩa là gì nếu không phải là mình phải nỗ lực, mình phải cố gắng, mình phải can đảm, mình phải dứt khoát mong muốn bước ra khỏi bóng đêm của sự tội, sự dữ và sự chết đang tồn tại trong cuộc đời mình.

- Mệnh lệnh thứ 3: “hãy cởi ra cho anh ấy đi”. Một người bị quấn chặt và che mặt chắc chắn là không thể đi lại bình thường được. Hoặc là họ sẽ bị té, hoặc là họ sẽ bị đụng phải những vật cản trên đường. Cuộc đời chúng ta đôi khi đã đẩy được tảng đá do tội đè bẹp chính mình, đã nghe lời thôi thúc của Chúa để bật dậy trong sức sống mới, nhưng chúng ta vẫn cảm thấy còn điều gì đó không ổn, còn có cái gì đó che khuất tầm nhìn, còn có vấn đề nào đó khiến chúng ta không thanh thoát để hoà nhập với Chúa và cộng đoàn. Đó không gì khác hơn là những rào cản: mặc cảm tự ti do tội lỗi, do ngại ngùng, do chưa cởi bỏ được cái tôi của mình…

4. Hãng tin The Guardian vừa mới đăng tải bức thư của một nhân viên điện lực đang làm việc tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima I, trong đó có đoạn viết: “Khóc lóc là vô ích, và nếu chúng ta đã rơi vào địa ngục thì tất cả những gì chúng ta còn lại đều phải hướng về phía thiên đàng”. Vâng, khi chúng ta bị đè bẹp bởi tội lỗi, sự dữ và sự chết, hãy đừng buông xuôi, đừng chán nản, đừng tuyệt vọng. Hãy tự mình và hãy nâng đỡ nhau thắp lên niềm hy vọng cậy dựa vào Lời Chúa… để chúng ta có thể đến được với Chúa Kitô là nguồn sống thật và là sự sống dồi dào. Amen.

3.4.11

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY


Tôi đọc được 1 câu chuyện trên internet thế này: Có một người cha nghèo đã nổi giận trách mắng đứa con gái 5 tuổi của mình khi thấy đứa bé cắt cuộn giấy quý ra thành từng mảnh nhỏ chỉ để trang trí một cái hộp giấy. Sáng sớm hôm sau, đứa con gái nhỏ mang hộp quà đến và nói: “Bố ơi, con tặng Bố nhân ngày sinh nhật”. Người cha cảm thấy bối rối vì cơn giận dữ của mình tối hôm trước. Nhưng ngay sau đó, cơn giận dữ lại bùng lên khi ông mở ra, thấy cái hộp trống rỗng. Ông la mắng con gái lần nữa. Nhưng đứa con gái nhỏ ngước nhìn người cha, nước mắt rưng rưng, thưa: “Bố ơi, đó đâu phải là cái hộp rỗng đâu. Con đã thổi đầy những nụ hôn vào hộp để tặng Bố mà”. Người cha chợt giật mình. Ông vòng tay ôm lấy đứa con gái nhỏ như cầu xin ơn tha thứ. Ông sáng mắt nhưng chỉ thấy cắt cuộn giấy là phí tiền, chứ không thấy công lao của đứa con. Ông sáng mắt, nhưng chỉ thấy hộp quà trống rỗng mà không nhận ra được những nụ hôn hiếu thảo của con mình.

Trong Bài đọc I: Chúa sai tiên tri Samuel đi đến nhà Isai, để tấn phong một người con trai ông lên làm vua. Thấy Eliab với dáng vẻ cao lớn, Samuel nghĩ rằng đây chính là người mà Chúa muốn chọn. Nhưng Chúa bảo đừng trông diện mạo bên ngoài, Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Chúa thì thấy tận cõi lòng.

Bài Tin Mừng hôm nay kể câu chuyện đời của anh mù từ thuở mới sinh. Anh không chỉ được sáng con mắt thể lý để nhìn thấy mọi vật, mà quan trọng hơn, từ nay, anh được sáng con mắt đức tin để nhìn ra ông Giêsu là Thiên Chúa và tin vào Người.

Và như thế, Lời Chúa gởi đến cho chúng ta một sứ điệp kép thật rõ ràng: Chúa Giêsu chính là “nguồn sáng thật”, ai đến với Chúa sẽ được nhận ra sự thật về Chúa, về chính mình và về tha nhân; và rồi con người cần vượt thắng những gian lao vất vả thì mới có thể tới được với “nguồn sáng thật” là chính Chúa Giêsu Kitô

Vậy thì vấn đề là “con mắt đức tin” của chúng ta đang sáng hay đang mù? Nếu như chúng ta có đôi mắt sáng thì chúng ta sẽ nhìn ra được:

- Sự thật về Chúa là cha yêu thương và là Đấng chúng ta phải hết lòng tôn thờ. - Sự thật về chính mình là con người mỏng dòn yếu đuối, cần được Chúa tha thứ và cần sự trợ giúp của mọi người. - Sự thật về tha nhân là anh chị em của mình và phải hết lòng yêu thương như Chúa đã yêu thương.

Nhưng trong thực tế của cuộc sống, nếu nghiêm túc vào cuộc đời mình, có lẽ chúng ta sẽ thấy rằng không phải lúc nào chúng ta cũng có đôi mắt sáng, bởi vì lắm lúc đôi mắt đức tin của mình bị mù, hoặc bị mờ, hoặc là loạn thị…:

- Khi không nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời của mình, nơi Giáo Hội, nơi tha nhân… khi thấy cuộc đời mình chỉ toàn đắng cay, khi thấy mình đơn độc lẻ loi trong cuộc trần này, mà chẳng thấy bóng dáng cũng như bàn tay của Thiên Chúa, sự đỡ nâng của Giáo hội và sự trợ giúp của anh chị em xung quanh mình. - Khi không thấy những giới hạn, những khuyết điểm, những lỗi lầm, những sai trái của mình để biết sống khiêm nhu đơn thành hơn… mà chỉ thích thấy những tiêu cực, những khuyết điểm của tha nhân để chỉ trích, chê bai, coi thường và khi dể họ. - Khi chỉ thấy được những nhu cầu, quyền lợi của mình, mà không thấy được những hoàn cảnh, tâm tư, danh dự và nguyện vọng của tha nhân, thế nên nhiều lần cư xử thiếu tế nhị, thiếu khoan dung với mọi người, qua việc nói hành nói xấu, lặp đi lặp lại những lời đồn thổi tai hại cho anh chị em mình.

Trong Mùa Chay thánh này, bằng cầu nguyện, bằng an chay hãm mình, và bằng làm phúc bố thí, chúng ta hãy xin Chúa chữa lành đôi mắt đức tin, để chúng ta được nhìn thấy và thấy thật rõ, thật trung thực, thật chính xác: thấy mình thì nhỏ bé, thấy Chúa thì bao la, thấy anh chị em của mình thật là dễ thương, dễ mến.

12.3.11

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY



1. Vào năm 1958, tại Nhật Bản, khi chứng kiến từng hàng người xếp hàng trong đêm giá lạnh để chờ mua những vắt mì tươi tại một cửa hàng, Momofuku Ando đã phát minh ra “mì ăn liền”, và đến nay, “mì ăn liền” được coi là món ăn phổ biến khắp thế giới. Thậm chí có người còn nói chúng ta đang sống vào thời đại “mì ăn liền”! Bởi vì trong “xã hội thực dụng” ngày nay, con người thích sống theo kiểu “mì ăn liền”, nghĩa là người ta luôn đòi hỏi phải được thoả mãn nhu cầu ngay lập tức.

2. Thật ra thì không phải con người thời nay mới thích “mì ăn liền”, mà ngay cả ông bà nguyên tổ cũng thích nữa. Này nhé, sách Sáng Thế đã kể Con Rắn, là Satan nói với bà Evà: “…ngày nào các ngươi ăn trái ấy, mắt các ngươi sẽ mở ra, và các ngươi sẽ biết thiện ác như thần thánh…” (BĐI). Ông bà nguyên tổ đã sa chước cám dỗ, đã phạm tội vì đã để cho mình chiều theo chủ nghĩa thực dụng, để cho mình sống theo kiểu “mì ăn liền”.
3. Đến thời Tân Ước, Satan cũng tấn công Chúa Giêsu theo xu hướng thực dụng như thế. Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe tường thuật cuộc chiến đấu cam go giữa Chúa Giêsu và Satan. Satan mời gọi Người theo chủ nghĩa thực dụng, sống theo kiểu “mì ăn liền”: Đói hả? Hoá bánh ra mà ăn… có liền! Muốn nhiều người theo mình hả? Làm xiếc đi… thu hút liền! Muốn được tất cả hả? Thờ Satan đi… được liền! Thế nhưng, ngược lại với Adam cũ, Adam mới là Chúa Giêsu đã chiến thắng nhờ Lời Chúa nhờ Thánh ý Cha, bằng cầu nguyện trong thinh lặng… chứ không để mình buông theo chủ nghĩa thực dụng, cũng không chạy theo kiểu sống “mì ăn liền”.

4. Trong thực tế của cuộc sống hôm nay, chủ nghĩa thực dụng và lối sống “mì ăn liền” dường như đang lên ngôi:
- Cán bộ kiểu “mì ăn liền”: khi tranh thủ “ăn liền” của công, tham nhũng hối lộ… để phòng khi về hưu hoặc bị mất chức.
- Bằng cấp kiểu “mì ăn liền”: khi được mua bằng tiền bạc, bằng tình ái, bằng quyền hành.
- Giới trẻ kiểu “mì ăn liền”: khi lao vào những cuộc vui thâu đêm, những cuộc tình 1 đêm mà không biết chăm chút cho tương lai.
- Học sinh kiểu “mì ăn liền”: khi chỉ muốn sử dụng những bài văn mẫu, những “phao” khi thi cử, mà không chịu học hành, thiếu tư duy, thiếu sáng tạo.
- Sống đạo kiểu “mì ăn liền”: kiểu này khá phổ biến ở tây phương và cũng thỉnh thoảng xuất hiện tại Việt Nam. Dù là người công giáo, nhưng cả đời chỉ đến nhà thờ có vài ba lần: khi rửa tội, khi rước lễ lần đầu, khi hôn phối và khi chết!!!

5. Cơn cám dỗ thực dụng, thích sống theo kiểu “mì ăn liền”, dần dà dẫn con người đến chỗ không còn nghĩ đến đời sau, mà chỉ nghĩ đến đời này. Trong khi đó, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tỉnh thức trước những cơn cám dỗ, đặc biệt trong một thế giới nghiêng chiều về chủ nghĩa thực dụng hôm nay. Và khi đã vạch mặt đặt tên cơn cám dỗ trong cuộc đời mình, chúng ta cần cậy dựa vào Lời Chúa và thánh ý của Người như là khí giới để chiến đấu và chiến thắng. Mà muốn lắng nghe được Lời Chúa và biết được thánh ý của Người thì chúng ta cần phải cầu nguyện trong thinh lặng, theo gương của Chúa Giêsu và như lời cầu nguyện của Mẹ Têrêsa Calcutta:
Lạy Thiên Chúa, Đấng ưa thích sự thinh lặng, xin dạy con thinh lặng để ở một mình với Ngài, trò chuyện, lắng nghe và thấm nhuần Lời hằng sống. Xin dạy con thinh lặng nơi con mắt, biết nhắm lại trước những vấp váp của tha nhân, biết quay đi trước những dịp tội gây xao xuyến. Xin dạy con thinh lặng nơi đôi tai, để nghe được tiếng kêu của người nghèo đói, để khép lại trước những mời mọc của ma quỷ. Xin dạy con thinh lặng nơi miệng lưỡi, để biết ca tụng Chúa và đem lại an vui cho muôn người, tránh cho mọi lời nói gây đau đớn đổ vỡ. Xin dạy con thinh lặng nơi trí khôn, để mở ra trước sự thật và khép lại trước dối trá. Cuối cùng xin dạy con thinh lặng nơi quả tim, để tránh xa mọi ích kỷ, thù hằn, ghen ghét, để yêu mến và ước ao Thiên Chúa trên hết mọi sự. Amen.

9.3.11

THỨ TƯ LỄ TRO

1. Hôm nay, với nghi thức Xức Tro, chúng ta lại bước vào một cuộc hành trình 40 đêm ngày. Cuộc hành trình hướng đến thời điểm đón mừng Mầu Nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô. Trong bước khởi đầu cho hành trình này, Giáo hội mời gọi con cái mình tiến đến vạch xuất phát:

- Nơi đó có Thiên Chúa Cha Đấng giàu lòng thương xót đang chờ đón và sẵn sàng than thứ cho chúng ta như đã tha thứ cho đứa con hoang đàng trở về.
- Nơi đó có Chúa Giêsu Kitô là khuôn mẫu cho cuộc sống và là niềm hy vọng Phục sinh của cuộc đời chúng ta.
- Nơi đó có Chúa Thánh Thần là động lực thúc đẩy chúng ta chiến đấu và vượt thắng những cơn cám dỗ và những thử thách trong cuộc đời.
- Và nơi đó có Giáo Hội là hiền thê của Chúa Kitô, là mẹ hiền của chúng ta cùng đồng hành với chúng ta để giúp chúng ta vượt lên phía trước.

2. Tiến đến vạch xuất phát của hành trình Mùa Chay thánh, cùng với Chúa Ba Ngôi và trong Giáo hội, cũng chính âm vang của phần Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay:
- Là trở về với chính mình, trong tận sâu thẳm của tâm hồn mình, như lời tiên tri Giôen kêu gọi trong Bài đọc thứ nhất: “Hãy xé lòng chứ đừng xé áo”.
- Là gặp gỡ chính tình yêu Thiên Chúa, để làm hoà vời Người như lời thánh Phaolô tông đồ khích lệ trong Bài đọc thứ hai: “Hãy làm hoà với Thiên Chúa”.
- Là thể hiện bằng chính những việc làm rất cụ thể đã được Chúa Giêsu nêu lên trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe: Cầu nguyện, ăn chay và bố thí.

3. Chúng ta cần gia tăng cầu nguyện trong Mùa Chay, để lắng nghe Lời Chúa, để nhận ra thánh ý của Người, để để chúng ta không còn sống theo ý riêng của mình nữa, nhưng là sống theo thánh ý của Thiên Chúa.

4. Chúng ta cần gia tăng ăn chay hãm mình, không phải để giảm cân, để có vóc dáng đẹp, hay để tỏ ra mình anh hùng, nhưng là để tâm hồn chúng ta thoát khỏi những bám víu trần tục, những ham muốn vật chất thấp hèn, và như vậy, tâm hồn chúng ta được nhẹ nhàng thanh thoát.

5. Chúng ta cần gia tăng bố thí và làm việc lành phúc đức, không phải vì chúng ta quá giàu nên cần bỏ những đồ thừa thãi, mà là chúng ta muốn nên giống Chúa Giêsu Kitô, biết quan tâm đến những nhu cầu của tha nhân và quảng đại chia sẻ những gì mình có để họ được hạnh phúc hơn.

6. Rồi khi chúng ta bỏ chút tro lên đầu, không phải là một việc phải làm cho có hay là một thói quen máy móc, mà là một nghi thức nhằm diễn tả tâm tình khiêm tốn, nhìn nhận thân phận yếu hèn của mình để tỏ lòng sám hối sâu xa. Và một chút rắc lên đầu hôm nay phải trở thành những quyết tâm canh tân đời sống trong suốt Mùa Chay thánh này.

7. Chúng ta đang cùng nhau đứng trên vạch “xuất phát” của hành trình Mùa Chay thánh năm 2011. Chúng ta hãy cùng nhau “vượt chướng ngại vật” là những ích kỷ, những đam mê, những lỗi lầm bằng sự hy sinh hãm mình và sám hối ăn năn. Chúng ta hãy cùng nhau “tăng tốc” trong đời sống cầu nguyện và bác ái bằng việc siêng năng đọc kinh hôm kinh mai trong gia đình, siêng năng đến nhà thờ để lãnh nhận các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể và Bí tích Giao hoà, sẵn sàng chia sẻ cho tha nhân những gì mình có để đáp ứng phần nào những nhu cầu họ cần hầu có thể sống xứng đáng với phẩm giá của con người và của người con Chúa.

8. Được như thế, chúng ta mới có thể cùng nhau “về đích” trên đỉnh Phục sinh vinh quang nhờ Chúa Kitô, cùng với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô - Đấng cứu độ duy nhất của chúng ta, hôm qua hôm nay và mãi mãi. Amen.

19.2.11

CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN

YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

Có anh chàng nghiện rượu, nhưng lại thích lý sự. Ngày kia cha sở đến nhà khuyên anh ta bỏ rượu chè bê tha để lo cho gia đình. Anh chàng bèn hỏi cha sở: “Theo như cha nói thì rượu là kẻ thù của con phải không, thưa cha?”. Cha sở đáp: “Đúng rồi! Rượu là kẻ thù của anh, nên đừng uống say sưa nữa nhé!”. Anh ta đủng đỉnh: “Mới Chúa nhật rồi, trong bài giảng, cha nói Chúa dạy phải ‘yêu thương kẻ thù’, nghĩa là phải đón nhận kẻ thù! Vậy rượu là kẻ thù của con, con uống rượu là đón nhận kẻ thù… như lời cha giảng, như lời Chúa dạy!!!”. Cha sở: Bó tay!!!

Lập luận trên của anh chàng nghiện rượu là lập luận theo kiểu lý sự “cùn”. Bởi vì kẻ thù mà Chúa muốn nói trong bài Tin mừng hôm nay thật ra là những người làm cho ta đau khổ, những người khiến cho ta bị tổn thương, những kẻ không ưa thích gì ta, những người làm hại ta… Như vậy, lời dạy của Chúa Giêsu “hãy yêu thương kẻ thù” là một lời mời gọi chúng ta biết vượt lên tình yêu tự nhiên - là thứ tình yêu vị kỷ, để yêu thương bằng một tình yêu siêu nhiên - là tình yêu vị tha. Cụ thể, Chúa Giêsu mở rộng chân trời yêu thương tới hết mọi người. Người mời gọi chúng ta phá đổ mọi hàng rào cách ngăn, vượt qua mọi giới hạn để tình yêu thương của chúng ta được chan hoà hơn. Và như thế, không còn ai bị loại ra khỏi tình yêu thương của người môn đệ Đức Kitô nữa. Đây chính là điều mới mẻ và độc đáo của Tin Mừng và là mức độ cao nhất của tình yêu hoàn thiện như Cha trên trời.

Trong thực tế cuộc sống, tình yêu của con người thật giới hạn. Theo quan niệm chung, tình yêu thương cũng phải có qua có lại. Ngay cả anh chị em hay những bà con ruột thịt trong gia đình yêu nhau đã khó, yêu thương những người hàng xóm lại khó hơn và yêu thương kẻ thù thì khó gấp bội. Làm sao chúng ta có thể dung hòa để mang lời Chúa áp dụng vào cuộc sống thực tế đầy đau thương và bất công này? Làm sao chúng ta yêu thương được những kẻ ỷ thế cậy quyền để bóc lột, chèn ép, đối xử bất công với chúng ta? Làm sao chúng ta yêu thương được những người vu khống, chỉ trích, nói hành nói xấu chúng ta? Chỉ cần nhìn thấy bản mặt của họ là thấy ghét, làm sao chúng ta có thể bao dung và tha thứ được, chứ đừng nói đến chuyện yêu thương?!

Chúa Giêsu dịu dàng nhắc nhở: “Như vậy, anh em mới trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương” (Mt. 5,45). Đó chính là lý do thứ nhất khiến chúng ta phải hết lòng yêu thương mọi người kể cả những người thù ghét mình.

Kế đến, chúng ta cần yêu thương cả những người thù ghét chúng ta, bởi vì chính chúng ta được Thiên Chúa yêu thương. Giả như Thiên Chúa đối xử với ta như cách ta thường đối xử với tha nhân, thì có lẽ chúng ta đã bị diệt trừ từ lâu rồi. Thật vậy, trong cuộc sống, đã nhiều lần chúng ta là kẻ thù của Chúa khi xúc phạm đến Chúa, chống lại Chúa, thử thách Chúa...

Chúa Giêsu đã dạy và đã nêu gương cho chúng ta qua chính cuộc sống và cái chết của Ngài. Phần chúng ta, cho dù khó khăn, nhưng chúng ta có thể thực hiện được tình yêu thương với ơn Chúa trợ giúp. Chính thánh Phaolô đã quả quyết điều này: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4,13).

Có một vị rất tâm đắc với bài Tin Mừng này, đó là Gandhi, người được dân Ấn-độ coi là vị thánh. Ông là cha đẻ của chủ trương bất bạo động, để giành lại độc lập cho đất nước từ tay người Anh. Ông nói: “Bất bạo động là luật của loài người, bạo động là luật của loài thú”. Chúng ta thường sợ mang tiếng là hèn nhát, khiếp nhược, sợ kẻ ác thắng thế khi thấy ta lùi bước. Chúng ta ít dám tin vào sức mạnh của Tình Yêu. Nhưng mà, chính Tình Yêu chứ không phải bạo lực mới có thể làm trái tim con người trở nên mềm mại và tràn đầy sức sống.

Chúa Giêsu mời gọi ta yêu thương và cầu nguyện cho kẻ thù để trở thành con cái Cha trên trời. Chúng ta không chỉ trở thành con Cha vào ngày Rửa tội. Chúng ta trở thành con Cha hơn nhờ những hành vi tha thứ yêu thương mỗi ngày. Amen.

13.2.11

CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN - A

CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN - A

Suốt đêm 11 rạng sáng 12-2, hàng trăm ngàn người Ai Cập đã đổ ra đường phố thủ đô Cairo để reo hò, vẫy cờ, nhảy múa và thậm chí rơi nước mắt trong niềm vui vô bờ. Bởi vì sau 18 ngày đấu tranh không biết mệt mỏi, họ đã lật đổ chế độ độc tài và tham nhũng của tổng thống Mubarak sau gần 30 năm cầm quyền. Người ta gọi đó là chiến thắng vĩ đại của nhân dân Ai cập và là sự thành công của cuộc cách mạng dân chủ, tự do và tiến bộ. Cuộc cách mạng này không chỉ làm chấn động Ai cập và vùng Trung Đông cũng như Phi châu, mà còn tạo nên sự hoang mang nơi các chế độ độc tài khác trên thế giới và làm phấn chấn tinh thần của những nhà đấu tranh cho tự do công bằng và dân chủ.

Vào thời của Chúa Giêsu, người ta cũng hoang mang, cũng xôn xao cũng phấn chấn vì nghĩ rằng đang có một cuộc cách mạng vĩ đại xảy ra, không phải là cách mạng chính trị, mà là cách mạng tôn giáo. Bởi vì trong bài giảng trên núi, người ta có cảm tưởng rằng Chúa Giêsu huỷ bỏ lề luật của Môisê và các tiên tri. Sở dĩ có luồng dư luận như thế là vì những lời nói và hành động của Chúa Giêsu xem chừng quá mới, quá lạ, quá “shock” đối với họ, chẳng hạn như: tuyên bố Con Người làm chủ ngày Sabat; dạy dỗ không nhân danh Môsê, nhưng nhân danh chính mình... Chính những điều này là nguyên nhân khiến cho dân chúng nghĩ rằng Chúa Giêsu đến để huỷ bỏ lệ luật, và cho rằng Người đang làm 1 cuộc cách mạng. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã quả quyết rằng Người đến là để kiện toàn, chứ không phải để huỷ bỏ lề luật.

Lý do mà Chúa Giêsu phải kiện toàn lề luật mà Thiên Chúa đã truyền cho Môisen và các tiên tri là vì theo thời gian, người ta đã thêm thắt hay chi tiết hoá và khiến cho luật bị méo mó, lệch lạc; Hơn nữa, vì lề luật cũng có tính cách tiệm tiến như mạc khải, nghĩa là không thể một lúc, một thời mà luật trở nên hoàn hảo được; không phải vì Thiên Chúa không hoàn hảo, mà vì khả năng của người có giới hạn và bất toàn.

Và vì lẽ đó lề luật chỉ được làm cho trọn hảo trong Chúa Giêsu Kitô mà thôi. Hay nói cách khác, Chúa Giêsu đã đến kiện toàn nội dung và tinh thần của Luật.

Trước hết, Chúa Giêsu kiện toàn nội dung của luật: tất cả các khoản luật được lập ra là nhằm mục đích phục vụ con người, chứ không phải phục vụ cơ chế hay quyền lợi của một nhóm người nào. Luật phải vì con người chứ không phải con người vì luật. Và luật quan trọng nhất, linh hồn của mọi luật, là luật yêu thương.
Kế đến, Chúa Giêsu kiện toàn tinh thần của luật: giữ luật vì tình yêu mến chứ không phải vì hình thức. Thái độ giữ luật vì sợ tội, sợ phạt và vụ luật sẽ biến con người trở thành máy móc và cằn cỗi vì thiếu một trái tim biết rung nhịp yêu thương. Và như thế, luật trở thành một thứ xiềng xích trói buộc con người.

Có thể nói được rằng qua việc kiện toàn lề luật, Chúa Giêsu đã làm một cuộc cách mạng thực sự. Dĩ nhiên, đây không phải là cuộc cách mạng về chính trị, dân chủ như người dân Ai Cập đã làm trong những ngày qua, mà là cuộc cách mạng giải phóng con người khỏi ách nô lệ của lề luật và sự chết. Luật Chúa từ nay thành Luật mới, tạo nên con người mới, gia đình mới và xã hội mới - một xã hội bao gồm những con người lương thiện: “trở nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện”.

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy biết tôn trọng và tuân giữ luật của Chúa, luật đã được Chúa Giêsu kiện toàn thành “Giới răn mới” và đã trở nên luật của sự sống sung mãn nhờ tinh thần yêu mến. Khi chúng ta tuân giữ Luật Chúa là lúc chúng ta bước vào dòng suối vô tận của tình yêu thương vô biên, khơi nguồn từ Chúa Cha, được tỏ bày cách trọn hảo nơi Chúa Giêsu và nhờ Thánh Thần chuyển thông trong Giáo hội. Vâng, chỉ khi chúng ta chu toàn Luật Chúa với con tim chân thành yêu thương, thì lúc đó chúng ta mới đạt tới sự tự do hoàn toàn và hạnh phúc đích thực.
Xin Chúa giúp cho chúng ta biết chu toàn luật Chúa chỉ vì lòng mến Chúa và yêu người. Amen.

29.1.11

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN - A - CHÁNH TOÀ – 2011

1. Là con người, ai cũng mong ước được hạnh phúc và nỗ lực đi tìm hạnh phúc. Hạnh phúc là khát vọng ngàn đời của mỗi người. Khi con người chiều theo cơn cám dỗ của Satan, đó chính là lúc hạt mầm hạnh phúc không còn đủ “thiên thời địa lợi” để mọc lên và đơm hoa kết trái. Bất hạnh và gian dối theo về, ùa vào cuộc đời, chảy xuôi dòng lịch sử. Để rồi từ đó, con người luôn khắc khoải đi tìm hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc đích thực là gì? Ai có thể chỉ cho chúng ta con đường đạt tới hạnh phúc đích thực?!
2. Có người cho rằng hạnh phúc là vàng bạc là tiền của vật chất. Người khác lại cho rằng hạnh phúc là quyền lực, địa vị danh vọng. Có người nghĩ hạnh phúc là sức khỏe, là sắc đẹp, là tình yêu. Còn đối với Ấn giáo thì hạnh phúc là sự hài hoà trong cuộc sống… Như vậy có muôn lối nhìn về hạnh phúc tuỳ theo quan niệm của mỗi người. Và tuỳ ở quan niệm về hạnh phúc thế nào mà người ta sẽ sống như thế ấy. Chẳng hạn như Tần Thuỷ Hoàng sai người đi tìm thuốc trường sinh để mong thoả ước mơ được hạnh phúc là sự bất tử. Thế nhưng cũng có những điều giản dị hằng ngày khiến chúng ta tràn trề niềm vui, như thể phần nào cảm nhận được dư vị của hạnh phúc đích thực… đến nỗi phải thốt lên như nhạc sĩ Trần Tiến “Hạnh phúc quá đơn sơ, đời tôi đâu có ngờ...”.
3. Hạnh phúc thực không là một cành hoa dại ven đường để ai đó dễ dàng lặt hái. Hạnh phúc thực chẳng là chiếc áo để người ta thoải mái đổi thay. Hạnh phúc thực là sự sống - là tình yêu - là sự thiện hảo. Có một chàng phóng viên mơ rằng mình được Chúa cho lên Thiên Đàng để thực hiện 1 phóng sự về cuộc sống hạnh phúc đích thực. Chàng ta quan sát một vòng Thiên Đàng, vô cùng ngạc nhiên và thích thú vì những điều mình xem thấy… Đang mê mẩn chiêm ngưỡng cảnh Thiên Đàng, chàng phóng viên lạc vào 1 Siêu Thị rất lớn, với bảng quảng cáo: “Nơi đây phân phối hạnh phúc miễn phí cho con người”. Chàng phóng viên quay sang chất vấn Chúa: “Ở đây có cả một siêu thị hạnh phúc… còn nói là dành cho trần gian, vậy mà ở dưới đó… toàn là bất hạnh!!! Dân làm báo chúng con ngày nào cũng phải đưa tin về tham nhũng hối lộ, bất công xã hội, ỷ quyển ỷ thế hà hiếp dân lành, chiến tranh hận thù, chém giết thanh toán lẫn nhau, xì ke ma tuý, bạo hành ngoài xã hội, trong gia đình và trong cả trường học…”. Chúa ôn tồn trả lời: “Đúng! Đây là Siêu thị hạnh phúc dành cho con người, nhưng ở đây chỉ phân phối hạt giống thôi. Con người được nhận hoàn toàn miễn phí và nhiệm vụ của họ là chăm sóc và vun tưới cho hạt giống hạnh phúc nảy mầm và trổ sinh hoa trái!”. Chàng ta tò mò: “Nhưng chăm sóc có khó không?”. Chúa đưa cho anh ta 1 tờ giấy trong đó ghi công thức chăm sóc hạt giống hạnh phúc, đó là Mt 5, 1-12. Anh tròn xoe đôi mắt… rồi giựt mình thức giấc…
4. Thưa quý ÔBACE rất thân mến, quý ÔBACE có biết công thức Chúa trao cho con người để làm cho hạt giống hạnh phúc Chúa đã ban cho chúng ta là gì không? Đó chính là Hiến chương Nước Trời Chúa Giêsu đã công bố, mà chúng ta vừa lắng nghe. Thật vậy, Tám mối Phúc thật chính là con đường dẫn chúng ta đến sự sống, tình yêu và sự thiện hảo của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta hãy lưu ý điều này là: nếu không do tự nguyện vì Chúa, vì tha nhân thì sự nghèo, hiền lành, đau khổ, bách hại mà ta chịu chỉ là đau khổ chứ không là hạnh phúc. Trái lại chúng ta sẽ được hạnh phúc đích thực nếu chúng ta sẵn sàng đón nhận tất cả vì Chúa và vì tha nhân. Kinh nghiệm trong cuộc sống cho thấy, những người ích kỷ suốt ngày chỉ nghĩ tới mình, tới hạnh phúc hay nỗi đau của mình đều là những người đau khổ nhất. Còn những người có tâm hồn vị tha, biết nghĩ đến người khác, biết chấp nhận hy sinh để góp phần xây dựng hạnh phúc cho tha nhân và vì Chúa… thì những người ấy luôn luôn có hạnh phúc đích thực trong cuộc đời.
5. Người Kitô hữu chúng ta cần tập thói quen sống vì Chúa, vì tha nhân và thường xuyên tìm đủ mọi cách để giúp anh chị em chung quanh mình tìm được hạnh phúc. Sống như thế, không những chúng ta tìm được hạnh phúc ở đời này mà hy vọng chắc chắn rằng chúng ta sẽ đạt đến hạnh phúc vĩnh cửu đời sau. Amen.

24.1.11

CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN - A

CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN - A - CHÁNH TOÀ - 2011

Trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe hôm nay, thánh Mátthêu cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã làm ứng nghiệm lời tiên tri Isaia trong Bài đọc I: "Dân chúng đi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng vĩ đại, và một ánh sáng đã chiếu soi trên dân ở vùng bóng tối sự chết."

Một ngày kia Mẹ Têrêsa Calcutta đến Melbourne, Australia. Mẹ đi thăm một người nghèo không ai biết đến. Ông này sống trong một căn phòng rất tồi tệ, đồ đạc dơ bẩn ngổn ngang. Phòng thì không có cửa sổ mà cũng chẳng có một bóng đèn, rất tối tăm. Mẹ Têrêsa bắt tay vào thu dọn đồ đạc. Ông gắt lên: “Cứ để yên mọi thứ cho tôi”. Nhưng Mẹ vẫn cứ tiếp tục dọn dẹp. Sau khi mọi thứ đã ngăn nắp, Mẹ Têrêsa tìm thấy một chiếc đèn ở một góc phòng. Đèn bám đầy bụi, chứng tỏ lâu lắm rồi không ai đụng đến nó. Mẹ lau chùi sạch sẽ rồi hỏi:
- Sao lâu nay ông không thắp đèn lên?
- Thắp làm chi. Có ai đến thăm tôi đâu. Tôi đâu cần thấy mặt ai.
- Thế ông có hứa sẽ thắp đèn lên khi một nữ tu của tôi đến thăm ông không?
- Vâng, nếu tôi nghe có tiếng ai đến thì tôi sẽ thắp đèn lên.

Từ đó, mỗi ngày, hai nữ tu của Mẹ Têrêsa đều đến thăm ông và giúp đỡ ông. Một hôm ông nói với một trong hai nữ tu ấy: “Bây giờ tự tôi đã biết thu dọn phòng tôi rồi. Nhưng làm ơn nói với nữ tu đầu tiên đã đến thăm tôi rằng: ánh sáng mà bà thắp lên trong cuộc đời tôi vẫn còn cháy sáng”.

Lúc đầu ông đã không thích ánh sáng vì cảm thấy bị đe doạ. Ánh sáng làm ông khó chịu. Tại sao? Bởi vì nó làm lộ rõ cảnh khốn cùng mà ông đang sống. Trước hết là sự khốn khổ thể lý, sau là sự khốn khổ tinh thần. Nhưng dần dần, ông đã xem ánh sáng như một người bạn, nó an ủi ông và mang niềm hy vọng cho đời sống tăm tối của ông. Vì thế lần hồi ông thay đổi cuộc sống mình. Ánh sáng đã cứu ông. Dĩ nhiên không phải ngọn đèn đã làm điều này, nhưng chính là lòng nhân ái tử tế mà nó tượng trưng, và trước tiên là nơi mẹ Têrêsa rồi đến các nữ tu của mẹ.

Để biết đúng giá trị của ánh sáng, người ta phải nhận ra được bóng tối nơi mình, và mong muốn thoát ra khỏi đó. Để được biến đổi, người ta phải nhận thức được tình trạng của mình là cần biến đổi và muốn biến đổi. Để được giải thoát, người ta cần nhận ra rằng mình đang bị nô lệ và muốn được thoát khỏi cảnh nô lệ ấy. Đây là lý do tại sao Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ rao giảng với sứ điệp: "Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần đến". Hối cải là nhận biết bóng tối nơi mình và mở lòng ra với ánh sáng. Để được cứu độ, chúng ta phải ra khỏi bóng tối mà đi vào ánh sáng.

Có thể mỗi người chúng ta nhiều khi bước đi trong tối tăm trên hành trình của cuộc đời này:
+ Tối tăm về sự thật: khi chúng ta sống trong sự giả dối, thiếu trung thực, bóp méo sự thật trong cuộc sống.
+ Tối tăm về tương quan: khi chúng ta không muốn thấu hiểu, chưa biết lắng nghe những người chúng ta gặp gỡ.
+ Tối tăm về tình yêu: khi chúng ta không biết đón nhận, trao ban và chia sẻ tình yêu của mình với tha nhân.

Vì thế chúng ta cần có ánh sáng của Chúa Giêsu là thứ ánh sáng không phải để thiêu rụi, để xét xử, nhưng để cứu độ, để nâng dậy, để sưởi ấm, để chỉ cho chúng ta cách sống, để soi lối cho chúng ta trên con đường tiến về Nước Trời.

Rồi đến lượt mình, mỗi người chúng ta có thể là những ngọn đèn sáng trong một thế giới còn nhiều tăm tối về sự thật, tăm tối về tương quan và tăm tối về tình yêu.

Sống trong ánh sáng đã là một niềm vui lớn, và trở nên ngọn đèn sáng soi cho người khác lại là một niềm vui lớn hơn. Xin cầu chúc và cầu nguyện cho mỗi người trong chúng ta luôn được ánh sáng của Chúa Giêsu chiếu soi và bản thân chúng ta cũng trở thành một ngọn nến sáng soi tỏ cuộc đời hôm nay. Amen.

8.1.11

CHÚA NHẬT I THƯỜNG NIÊN - A

CHÚA NHẬT I THƯỜNG NIÊN - A
Kính thưa quý ÔBACE.

Sông Giođan, tiếng Do Thái là “yarad” có nghĩa là đi xuống. Sông Giođan dài 220km, bắt nguồn từ ngọn núi Hermon ở độ cao 520m trên mực nước biển, khi chảy vào hồ Hulê, độ cao chỉ còn 68m trên mực nước biển, đến chảy vào biển hồ Galilê thì độ cao không còn cao hơn hay bằng mà là thấp hơn mực nước biển tới 212m. Cuối cùng, khi sông Giođan đổ vào biển Chết thì độ sâu của nó là 394m dưới mực nước biển - coi như là điểm thấp nhất của trái đất này.

Khi Đức Giêsu bước xuống sông Giođan để chịu phép rửa, điều này đồng nghĩa với việc Người đã xuống chỗ thấp nhất không không chỉ là chiều sâu theo nghĩa không gian, mà còn là chiều sâu của tâm hồn, để hoà mình vào dòng người tội lỗi cần sám hối ăn năn. Người đã hạ mình xuống ngang hàng với chúng ta, liên đới với chúng ta để trở nên anh em của chúng ta.

Khi Đức Giêsu bước xuống dòng sông Giođan để chịu phép rửa, điều này cũng đồng nghĩa với việc Người đã xoá đi khoảng cách mênh mông, hố sâu ngăn cách giữa Thiên Chúa và con người. Cái khoảng cách giữa cõi siêu nhiên của Thiên Chúa với cõi trần tục của con người từ nay không còn là “một vực thẳm vô tận” nữa, mà nó đã được nối lại trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Và khi Đức Giêsu bước xuống dòng sông Giođan để chịu phép rửa, một kỷ nguyên mới đã được khai mở bằng một cuộc tạo dựng mới nơi Đấng được Thánh Thần xức dầu và được Chúa Cha gọi là “Con yêu dấu”. Như vậy, sự kiện tại dòng sông Giođan như là lời tiên báo cho hành trình thập giá của Đức Giêsu và việc Người bước xuống dòng sông Giođan là dấu chỉ thật rõ nét của tình yêu cứu độ.

Thưa quý ÔBACE rất thân mến,

Nhiều nhà thơ, nhà văn đã ví von cuộc đời như một dòng sông, nhưng không phải là dòng sông yên ả mà là một dòng sông với lắm thác ghềnh của sự tranh giành quyền lợi phe nhóm, với bao khúc quanh của gian dối lọc lừa… với những con người đang phải ngụp lặn và cố ngoi lên trong dòng chảy của một xã hội còn quá nhiều bất công, bạo hành, tham nhũng, hưởng thụ nhưng lại thiếu vắng tình yêu thương và sự liên đới.
Hôm nay, Đức Giêsu mời gọi chúng ta cộng tác với Người để thực hiện chương trình tình yêu cứu độ của Người trong dòng sông cuộc đời này. Ước chi mỗi người chúng ta biết “bước vào” dòng đời hôm nay, để chung tay góp sức xây đắp công lý và hoà bình, tình yêu và liên đới… bằng thái độ khiêm tốn, bằng con tim chân thành, bằng đôi tay chia sẻ, bằng những lời ủi an và bằng cả những hy sinh âm thầm cho nhau và vì nhau. Và khi đó, chắc hẳn chúng ta sẽ thấy trời mở ra và sẽ nghe được tiếng của Chúa Cha nói với chúng ta như nói với Đức Giêsu: “Này là con Ta yêu dấu. Ta hài lòng về con”. Amen.

26.12.10

GIÁNG SINH 2010

GIÁNG SINH 2010

LỄ CHIỀU 25.12 - THÁNH LỄ BAN NGÀY


1. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, chúng ta có thể liên lạc trực tiếp với nhau từ bất cứ nơi đâu trên thế giới. Chỉ cần một làn sóng Radio, hay một kênh truyền hình, hoặc là internet, chúng ta có thể trực tiếp trao đổi, tâm tình. Chẳng hạn nếu ai trong chúng ta đang có máy Radio, hay đang ở trên internet vào những giây phút này, thì chắc hẳn chúng ta sẽ nghe được sứ điệp Giáng Sinh của ĐTC Benedictô gởi cho thành Roma và cho toàn thế giới, đồng thời ngài cũng sẽ chúc mừng Lễ Giáng Sinh bằng hàng trăm thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt Nam chúng ta, cuối cùng, ngài ban phép lành Toà Thánh không chỉ cho khách hành hương ở tại quảng trường thánh Phêrô, mà còn cho mọi người trên thế giới qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Vâng, thưa quý ÔBACE, lời của một người được truyền đến người khác bằng phương tiện truyền thông hiện đại: nhanh chóng và hữu hiệu.
2. Bài khởi đầu TM theo thánh Gioan mà chúng ta vừa nghe 6 lần nhắc đến Lời, tiếng Hy Lạp gọi là Logos, không đơn thuần chỉ là tiếng nói, chỉ là âm thanh, mà quan trọng nhất, căn bản nhất - đó là Lời mạc khải trọn vẹn, đầy đủ và chung cục của Thiên Chúa đối với con người. Như vậy Lời mạc khải này thoả mãn được khát vọng sâu thẳm và sự trông mong mỏi mòn của nhân loại. Và có lẽ vì vậy, nên người ta mời dịch chữ Logos thành Ngôi Lời (không chỉ là tiếng nói, mà là một ngôi vị).
3. Chiêm ngắm Chúa Hài Nhi là “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14). Tôi chợt khám phá ra một vài ý tưởng mới mẻ, xin được chia sẻ với quý ÔBACE.
4. Trước hết, Chúa Giêsu là “Lời sự thật”. Sự thật về một Thiên Chúa là Cha tất cả mọi người, sự thật về chính mình là con của Thiên Chúa và là anh chị em của mọi người. Và như vậy, chỉ có ai sống trong sự thật mới có thể được Thiên Chúa ở cùng và được ở cùng Thiên Chúa.
5. Kế đến, Chúa Giêsu là “Lời sự sáng”. Sự sáng chiếu soi nhân loại, để ai ấy biết đường dẫn tới hạnh phúc, không phải chỉ là hạnh phúc tạm bợ ở đời này mà quan trọng hơn cả là hạnh phúc đời đời. Và như thế, ai sống trong ánh sáng thật mới có thể đạt được hạnh phúc thật của cuộc đời.
6. Cuối cùng, Chúa Giêsu là “Lời tình yêu”. Trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa ngỏ lời yêu thương con người, không chỉ bằng ngôn từ, mà bằng xương bằng thịt. Thế nên, chỉ có ai sống trong yêu thương thì mới có khả năng tiếp cận được với Lời tình yêu.
7. Nhưng thưa quý ÔBACE, Lời sự thật, Lời sự sáng và Lời tình yêu đã đến trần gian này hơn 2000 năm rồi, vậy mà nhìn vào thực tế của cuộc sốgn xã hội Việt Nam hôm nay, chúng ta không khỏi băn khoăn, bởi vì:
- Lời sự thật đã đến, vậy mà sao sự giả dối vẫn lan tràn trong xã hội: từ gia đình ra ngoài phố chợ, từ cấp thấp cho đến cấp cao, thậm chí cả trong ngành giáo dục nữa, đến nỗi trong lá thư nhân ngày 20.11.2008, Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giáo dục lúc bấy giờ đã bày tỏ sự lo lắng về sự giả dối trong ngành và trong xã hội, đồng thời hy vọng đến năm 2010, môi trường trong sạch được tái lập ở các trường học. Năm nay đã gần hết năm 2010 rồi… không biết niềm hy vọng ấy có thành hiện thực không?
- Lời sự sáng đã đến, vậy mà theo sứ điệp của Đại Hội Dân Chúa số 6, thì bóng tối của nạn phá thai, ly dị, ma túy, mãi dâm, tàn phá môi sinh… tất cả đang có chiều hướng gia tăng và là những dấu hiệu cụ thể của “nền văn hóa sự chết” vẫn còn vây bủa con người. Nhưng nguy hiểm hơn cả là còn nhiều người đang sống trong bóng tối của nền văn hóa sự chết ấy mà cứ ngỡ mình đang sống trong ánh sáng của thời đại phát triển.
- Lời tình yêu đã đến, vậy mà sao trong xã hội hôm nay vẫn còn đó sự ghen ghét, hận thù… vẫn còn đó tình trạng bất công, bóc lột, tham nhũng, sự gia tăng cách biệt giầu nghèo… những điều này là dấu chỉ của một “nền văn hoá sự dữ” vẫn còn tràn ngập trong cuộc đời này.
8. Chúng ta phải băn khoăn và phải tự hỏi tại sao! Nhưng quan trọng hơn cả là phải tìm cho được câu trả lời cho những băn khoăn của chúng ta. Theo tôi, câu trả lời chẳng phải ở đâu xa xôi, mà ở trong chính Bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe: “Người đã đến nhà mình nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”. (Ga 1, 11). Phải, Lời sự thật, Lời sự sáng, Lời tình yêu đã đến… nhưng nhiều khi trong cuộc đời… chúng ta không tiếp nhận. Lý do có thể là Lời sự thật thì mất lòng nên khiến ta ngại ngùng, Lời sự sáng thì minh bạch nên khiến ta hoảng hốt, còn lời tình yêu lại thì thầm, nên chỉ có ai có trái tim rộng mở và nhạy cảm mới lắng nghe được!
9. Dẫu sao, Lời cũng đã trở thành người phàm và ở giữa chúng ta. Cầu chúc cho tất cả quý ÔBACE và qua quý ÔBACE đang hiện diện nơi đây, gởi đến từng người trong các gia đình lời cầu chúc Giáng Sinh và lời cầu nguyện thiết tha: Xin Chúa Hài Nhi Giêsu, là Lời sự thật, Lời sự sáng và Lời tình yêu đã đến ở giữa nhân loại… ban cho mọi người trong chúng ta biết sống và làm chứng cho sự thật, biết cùng nhau cổ võ nền “văn minh sự sống” và “nền văn minh tình yêu” trong gia đình và trong xã hội hôm nay. Amen.

20.11.10

CHUÁ NHẬT 34 THƯỜNG NIÊN

CHUÁ NHẬT 34 THƯỜNG NIÊN
CHÚA GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ

1. Trong khi sinh hoạt thiếu nhi và giới trẻ, chúng ta biết đến trò chơi “ai là vua”: người quản trò chạy lòng vòng trong 1 vòng tròn, vừa đi vừa nói “ai là vua... ai là vua...” rồi bất ngờ dừng lại, chỉ vào 1 người và nói thật to “ai là vua?”. Lập tức người được chỉ vừa phải giơ 2 tay lên trời vừa nói “ta là vua”, còn 2 người đứng bên cạnh phải lập tức quỳ gối xuống, hướng về phía “vua” và đáp “muôn tâu bệ hạ”. Đây chỉ là 1 trò chơi nhằm đến phản xạ nhanh nhạy và đúng đắn của lời nói và cử điệu. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhìn vào trò chơi này để thấy được 2 xu hướng khá phổ biến của con người, đó là thích “làm vua” và thích “suy tôn vua”.
2. Bằng chứng cụ thể là khi tôi đánh từ chìa khoá “ông vua” trên trang tìm kiếm của google, chỉ trong 0,22 giây, tôi nhận được 2.840.000 kết quả. Có những người vì nổi tiếng nên được suy tôn là vua chẳng hạn như: “vua bóng đá”, “vua dầu hoả”, “vua truyền thông”, “vua bất động sản”, “vua hài”... nhưng thậm chí có những người vì tai tiếng mà bị suy tôn làm vua nữa, như: “vua cờ bạc”, “vua tiệc tùng”, “vua tốc độ”, “vua hưởng thụ”...
3. Thánh Lễ hôm nay chúng ta cử hành để suy tôn Chúa Giêsu Kitô là Vua vũ trụ, là Vua của cõi lòng chúng ta. Lẽ dĩ nhiên, Chúa Giêsu Kitô không là vua như những “ông vua” kể trên, mà Người là “vị Vua” của tình yêu và chân lý. Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe là một minh chứng cho chúng ta thấy điều đó: trên thập giá, Chúa Giêsu đã dùng tình yêu để xóa tan hận thù, dùng chân lý để quy tụ muôn loài muôn vật. Tình yêu lay động trái tim con người. Chân lý sáng soi bước chân nhân loại.
- Chúa Giêsu Kitô là Vua tình yêu vì Người phục vụ thần dân của Người như người tôi tớ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mt 20, 28). Chúa Giêsu Kitô là Vua tình yêu vì Người dám hy sinh cả mạng sống vì yêu thương: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hiến dâng mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15, 13).
- Chúa Giêsu Kitô là Vua chân lý vì Người đến để làm chứng cho sự thật. Sự thật rằng nhân loại có Thiên Chúa là Cha yêu thương. Sự thật rằng mọi người là anh chị em với nhau. Và sự thật rằng để có được hạnh phúc đích thực thì con người phải sống theo Bản Hiến chương Nước Trời. Chỉ trong sự thật này, con người mới được giải thoát khỏi mọi thứ giả dối lọc lừa, mới có thể tiến bước trong hành trình sự sống dồi dào.
4. Thế nhưng, trong thực tế của cuộc sống hôm nay, người ta thường loại trừ Chúa Giêsu Kitô ra khỏi cuộc sống của mình khi nhân danh tình yêu để triệt hạ kẻ khác, nhân danh chân lý để bóp nghẹt sự thật! Phần chúng ta, những người Kitô hữu, những người đã ghi danh vào trong Vương quốc của Chúa Giêsu Kitô, có thể đôi khi trong cuộc đời, chúng ta cũng muốn tự cho mình “làm vua” khi sống thiếu tình yêu thương với anh chị em đồng loại, hoặc tôn một con người nào đó, một sự vật nào đó lên “làm vua” của mình, chẳng hạn như quá ham mê tiền bạc, danh vọng, lợi lộc... mà chối bỏ chân lý, sống xa rời sự thật.
5. Chúng ta chỉ thực sự là thần dân trong Vương quốc của Chúa Giêsu Kitô khi biết bước vào con đường tình yêu của Người để có thể yêu thương hết mọi người. Chúng ta chỉ thực sự là thần dân trong Vương quốc của Chúa Giêsu Kitô khi biết nghe theo lời chân lý của Người để sống trung thực và ra sức bên vực lẽ phải, nhất là lễ phải của những người cố thế cô thân trong xã hội hôm nay. Vì chưng, chỉ những ai sống trong tình yêu và trong chân lý mới xứng đáng trở thành công dân trong Vương quốc tình yêu và chân lý của Chúa Giêsu Kitô.

7.11.10

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN - C - CHÁNH TOÀ

Kiếp sống con người đã, đang và vẫn luôn là đề tài cho các nhà triết học, khoa học, tâm lý học, và ngay cả mỗi cá nhân, đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi: con người bởi đâu mà có, khi chết rồi con người sẽ ra sao và đi về đâu? Người ta đưa ra những giả thuyết như thuyết tiến hoá cho rằng “con người bởi khỉ mà ra…”. Hoặc niềm tin Phật giáo thì có thuyết luân hồi… Ngay cả những người Sađốc thời Chúa Giêsu cũng mơ hồ về kết cục của đời người, khi họ đặt ra câu hỏi về việc bảy anh em lấy chung một người phụ nữ làm vợ: “Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?” (Lc 20,32). Con người mọi thời đại, dường như mãi loay hoay đi tìm cho mình lời giải đáp về chính kiếp người, nhưng xem chừng như tất cả đều đi vào ngõ cụt, chưa có lời giải đáp, hoặc giải đáp không thoả đáng, không thuyết phục.
Chính vì chưa tìm ra lời giải đáp thoả đáng cho đời người, nhất là sau khi con người giã từ cuộc sống nơi trần gian, hoặc giả người ta có biết, nhưng biết một cách mơ hồ, cộng với lòng kiêu ngạo, đã đẩy con người vào những sai lầm đáng tiếc như: hưởng thụ vật chất, yêu cuồng sống vội, tranh giành hơn thua, giả dối và tàn ác…
Là người Kitô hữu, chúng ta tin có một Thiên Chúa hằng sống, vì yêu đã dựng nên ta; chúng ta tin Chúa Giêsu Kitô Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người, đã chết và đã sống lại để cho ta được sống, đem lại cho chúng ta niềm hy vọng mai này cũng được sống lại như Ngài, như lời Đức Kitô trả lời cho những người Sađốc trong Bài Tin Mừng: “Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ sẽ không thể chết nữa: vì họ giống như thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại.” (Lc 20,34-36).
Trong câu trả lời này, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta 3 điểm quan trọng:
- Một là chỉ những ai được tuyển chọn mới được vào Nước Chúa. Sự sống đời sau có đó, nhưng không phải ai cũng được vào. Chỉ có những người được xét là xứng đáng mới được vào. Tiêu chuẩn để chọn lựa chính là giới răn yêu thương.
- Hai là đời sống trên thiên đàng không giống với đời sống trên trần gian. Trên thiên đàng, ta sống một cuộc sống khác, dù không ăn uống, không lấy vợ lấy chồng, nhưng mình vẫn là mình, tôi vẫn cứ là tôi. Tuy có khác biệt về tình trạng nhưng vẫn liên tục trong bản chất.
- Ba là đời sống trên thiên đàng là đời sống của những người con của Thiên Chúa, nghĩa là được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là một sự sống hạnh phúc và sung mãn. Đó là sự sống mà con người hằng khắc khoải ước mong.
Để cho lời mạc khải của Chúa về cuộc sống đời sau được hiện thực hóa trong cuộc đời chúng ta, hay nói cách khác, để chúng ta được hưởng hạnh phúc với Chúa ở đời sau, chắc chắn chúng ta cần phải chuẩn bị ngay từ đời này, ngay trong giây phút hiện tại của hôm nay.
- Chúng ta chuẩn bị cho đời sau bằng việc gia nhập vào đoàn người Chúa đã tuyển chọn, nhờ đời sống bác ái yêu thương.
- Chúng ta chuẩn bị cho đời sau bằng thái độ sống giữa đời nhưng không vương nhiễm tội đời, nhờ việc năng đến lãnh nhận các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh thể.
- Chúng ta chuẩn bị cho đời sau bằng cố gắng sống trọn vẹn cuộc sống làm con của Chúa trong từng ngày sống của chúng ta, nhờ việc đọc kinh hôm kinh mai hằng ngày.
Xin cho chúng ta, đừng vì trần gian này quá đẹp khiến chúng ta mải mê, quên mình là lữ khách. Xin cho chúng ta, đừng nghĩ thiên đàng quá xa xôi nên chẳng con chỗ trong tim mình. Xin cho chúng ta đừng loay hoay vun quén cho đời sống cá nhân, đừng chăm chăm tìm lợi lộc vật chất, như thể chúng ta sẽ sống mãi trên mặt đất này. Cuối cùng, xin cho chúng ta nếm chút vị ngọt của trời cao, để chúng ta dám quên mình sống yêu thương ngay trong chính cuộc đời này. Amen.

2.11.10

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ - CHÁNH TOÀ - 2010
CÁC THÁNH LÀ…


1. Mỗi năm đến Lễ Các Thánh Nam Nữ, chúng ta thường được nghe những giải thích về Các Thánh là ai? Làm sao để được nên thánh… Điều này thật là hợp tình hợp lý và cần thiết cho mỗi người chúng ta. Những lời giải thích thường trưng dẫn Thánh Kinh, Thánh Truyền, và nêu gương những vị thánh nổi danh trong lịch sử Giáo Hội. Cả điều này nữa cũng thật là chính đáng và phải đạo.
2. Tuy nhiên, trong Thánh lễ mừng kính các Thánh hôm nay, tôi xin được chia sẻ với quý ÔBACE một vài suy nghĩ về Các Thánh ở một góc độ khác, góc độ của một anh Hai Lúa miền Tây sông nước. Ai trong chúng ta cũng biết, và đều có kinh nghiệm là dân miền Tây thật thà chất phác, ăn nói không rào trước đón sau, có sao nói vậy người ơi!
3. Ở góc độ này, tôi thấy Các Thánh trước hết là những người thuộc mọi tầng lớp. Nếu chúng ta lên Trời thăm Các Thánh, chúng ta sẽ thấy các ngài thật là đa dạng:
Sinh từ Âu Á Mỹ Phi,
Da vàng trắng đỏ đen sì đen nâu.
Chúa thương Chúa thưởng như nhau,
Già nua tuổi tác trước sau không cần.
Các Thánh không phải chỉ là những vị được tôn phong, mà là tất cả những ai đang hưởng hạnh phúc trên trời. Chúng ta thường nghĩ nên thánh là chuyện cao siêu, chỉ dành cho một thiểu số hết sức đặc biệt. Thật ra mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh:“hãy nên trọn lành như Cha trên trời”.
4. Cũng ở góc độ của anh hai lúa, tôi thấy Các Thánh là những người biết cười. Ngạn ngữ Âu châu có câu “Vị thánh buồn là vị thánh đáng buồn!”. Vì thế:
Biết cười là biết làm người,
Biết cười là biết sống đời với nhau.
Cuộc đời cao thấp lâu mau,
Biết cười là biết đường nào thật hơn.
Nụ cười là dấu chỉ của niềm vui, niềm hạnh phúc đong đầy. Nụ cười thật là nụ cười xuất phát từ nội tâm của người được yêu thương và chia sẻ tình thương yêu mà mình đã lãnh nhận cho tha nhân chung quanh mình, hầu niềm vui được lan toả và thêm chan chứa.
5. Và cũng ở góc độ này, tôi thấy Các Thánh là những người có tội được Chúa thứ tha. Khi ta được thứ tha tội lỗi, ta trở nên thánh thiện:
Thánh là thành thực nhận mình,
Là người tội lỗi khiêm nhường xin tha.
Chúa tha một cái thôi à,
Có chi mà phải vào ra ngập ngừng.
Được thứ tha tội lỗi chính là khởi đầu của đời sống thánh thiện. Sự khởi đầu đó chỉ có thể có được nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian. Như thế, Các Thánh “là những người đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên”.
6. Còn nhiều nhiều những cái nhìn khác theo kiểu “hai lúa” về Các Thánh… Thế nên 3 điều mà tôi vừa chia sẻ với quý ÔBACE chỉ là một phần nhỏ thật nhỏ trong vô vàn sắc thái của “đoàn người không thể đếm được” là Các Thánh Nam Nữ, trong đó chắc chắn là có ông bà tổ tiên của chúng ta.
7. Phần chúng ta, kính thưa quý ÔBACE, có lẽ ai trong chúng ta lại chẳng có khát khao nên thánh, nhưng xin hãy nên thánh ngay trong chính bổn phận của mình, ngay trong chính môi trường sống của mình, ngay trong chính phút giây hiện tại của mình. Hãy nên thánh bằng những suy nghĩ, lời nói và hành vi cụ thể:
- biết yêu những điều tốt đẹp cao quý
- biết ghét những điều đê tiện , xấu xa
- biết sống những điều mình yêu và dám chết vì những điều mình ghét.
- biết đưa tình yêu vào cuộc sống, để mỗi giây phút sống, chúng ta đều cảm nhận được niềm hạnh phúc yêu thương.
- biết đưa cuộc sống vào tình yêu, để từng giây phút yêu, chúng ta làm cho đời sống thêm giá trị.
Cuối cùng, chúng ta hãy biến đời mình thành một thời để sống và để yêu, biết hoà nhập cả 2 nên 1, để sống là yêu và yêu là sống, vì hiểu rằng Thiên Chúa hằng sống cũng chính là Thiên Chúa tình yêu. Amen.

CHÚA NHẬT XXXI TN - C - CHÁNH TOÀ

CHÚA NHẬT XXXI TN - C - CHÁNH TOÀ
LEO LÊN VÀ LEO XUỐNG

1. Bài Tin Mừng CN 31 TN hôm nay thuật lại một câu chuyện thật là ngộ nghĩnh: một người lùn nhưng giàu có, quyền lực và mang tiếng là “tội lỗi” đã tìm và gặp Đấng đem lại ơn cứu độ cho con người. Ngộ nghĩnh không phải ở mục đích của cuộc gặp gỡ, nhưng là ở cách thực hiện cuộc gặp gỡ đó. Vì là người giàu có và quyền lực, nên Giakêu có thể thực hiện cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu bằng 1 cách khác, ví dụ như nhờ người mời Chúa Giêsu đến dùng bữa tại nhà mình, vừa ấm cúng lại vừa thân mật, mà chẳng mất mặt vì hình thể thấp bé của mình. Nhưng ông đã không làm vậy, thế nên mới có chuyện ngộ nghĩnh là ông như 1 đứa trẻ, trèo lên cây sung chỉ để… “nhìn xem” Chúa Giêsu mà thôi!
2. Xem chừng như việc Giakêu đến gặp Chúa là do ông chủ động, nhưng kỳ thực, Chúa Giêsu mới là người chủ động đến gặp Giakêu “Con người tìm đến và cứu chữa những gì đã hư mất” (Lc 19, 10). Bởi lẽ, trong khi Giakêu chỉ muốn “nhìn xem Chúa Giêsu”, còn Chúa Giêsu lại muốn “lưu lại nhà” của ông! Thật vậy, Thiên Chúa luôn là người “mở lời” với con người, Thiên Chúa luôn là Đấng đưa ra sáng kiến trong việc cứu độ nhân loại. Việc gặp gỡ Chúa Giêsu đã đem đến cho ông một ân huệ lớn lao, hơn cả tiền bạc vật chất, đó là ơn cứu độ. Và khi đã “gặp gỡ Đức Kitô”, đã lãnh nhận ơn cứu độ, thì Giakêu được “biến đổi cuộc đời mình”, để sống công bình và bác ái hơn.
3. Để có thể “nhìn xem Chúa Giêsu là người thế nào”, Giakêu cần phải leo lên. Leo lên là đưa mình lên tầm cao, vượt lên khỏi chỗ đứng của mình. Phải lên cao để vượt qua khỏi những tự ái, những kiêu căng, những ham hố vật chất thấp hèn, những ràng buộc do danh dự và quyền hành, thậm chí cả những kiến thức mà mình đang thủ đắc để có thể “nhìn xem” Chúa Giêsu. Leo lên như Giakêu là chấp nhận vượt lên trên thực tại của chính tâm hồn mình. Khi leo lên để nhìn xem Chúa Giêsu thì cũng chính là lúc nhận chúng ta nhận ra được con người thật của mình.
4. Nhưng sau khi đã “leo lên” thì phải “leo xuống”. Có nhiều người chỉ thích “leo lên” để thấy Chúa thôi, nhưng thấy Chúa chưa phải là tất cả. Còn phải biết “leo xuống” để có thể gặp gỡ được Người. Bởi vì Chúa Giêsu không gặp gỡ con người ở đâu xa xôi, mà ở ngay trong chính tâm hồn của mỗi người, ngay trong từng phút giây hiện tại, ngay trong chính môi trường sống của chúng ta. Giakêu phải leo xuống để Chúa có “lưu lại” trong nhà của ông, trong tâm hồn của ông, và nhờ vậy, ông mới được hưởng ơn cứu độ, được đón nhận cuộc sống mới.
5. Nếu Giakêu là đại diện cho những người chưa biết Chúa, những người đang sống trong tội lỗi do thiếu công bình và không sống bác ái, thì trong xã hội chúng ta, có lẽ còn rất nhiều Giakêu của thời nay. Những Giakêu đang quản lý của cải chung của xã hội mà tiêu xài như của cá nhân mình. Những Giakêu mua bán đổi chác tài nguyên của đất nước để làm lợi cho một nhóm nhỏ mà quên đi trách nhiệm công bình và bác ái với thế hệ tương lai. Những Giakêu dùng quyền lực để làm giàu có bất chính. Chúng ta cầu xin Chúa cho những Giakêu của thời nay biết bắt chước Giakêu thời xưa: biết leo lên khỏi những ham hố vật chất, những đam mê quyền hành, những toan tính tư lợi, để có thể “nhìn thấy Chúa”, để có thể nghe được tiếng Chúa gọi; và biết “leo xuống” để đón Chúa vào cuộc đời mình… hầu có thể gặp gỡ được Chúa và được ơn biến đổi để sống công bình và bác ái hơn.
6. Còn với chúng ta, có lẽ cũng không ít lần chúng ta là Giakêu, nhưng xin hãy là Giakêu sau khi đã gặp được Chúa Giêsu: biết sống công bình với mọi người và biết quảng đại chia sẻ với anh chị em túng nghèo chung quanh mình. Muốn được như thế, chắc là chúng cũng phải biết “leo lên” để thấy Chúa và thấy chính mình, đồng thời cũng biết “leo xuống” để đón Chúa và trong cuộc đời chúng ta, nhờ vậy chúng ta gặp gỡ được Chúa, đón nhận ơn cứu độ và được biến đổi thành con người mới. Amen.

24.10.10

CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO

CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO - Chánh Toà 2010

1. Thống kê về số giáo dân Công giáo:
- Thế giới: Dân số 6 tỷ 600 triệu / Công giáo 1 tỷ 165 triệu / Tỷ lệ 17,40%
- Châu Á: Dân số 4 tỷ 067 triệu / Công giáo 124 triệu / Tỷ lệ 3%
- Việt Nam: Dân số 88 triệu / Công giáo 7 triệu / Tỷ lệ 7,9%
- Cần Thơ: Dân số 5.523.000 người (500.000 Khmer) / Công giáo 196.000 (Kinh 193.000; Khmer 2.700; Hoa 431) / Tỷ lệ 3,76%
2. Truyền giáo là gì?
- Một mệnh lệnh của Chúa Giêsu trước khi Người về trời, mệnh lệnh cuối cùng nên là mệnh lệnh quan trọng: “Hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thày đã truyền cho các con” (Bài TM).
- Mệnh lệnh này được Giáo Hội khẳng định: “Giáo hội tự bản chất là truyền giáo” (AG 2).
- Trong sứ điệp Truyền Giáo năm nay, Đức Thánh Cha kêu gọi mọi Kitô hữu: “không chỉ ‘nói’ về Chúa Giêsu, mà còn phải ‘cho thấy’ Người, phải làm cho gương mặt của Đấng Cứu Chuộc ngời sáng lên khắp mọi nơi trên trái đất”.
3. Truyền giáo bằng cách nào?
- Trong Sứ điệp Truyền Giáo năm nay, Đức Thánh Cha đã đưa ra đường hướng: “Xây dựng sự hiệp thông trong Giáo Hội là chìa khóa của việc truyền giáo”. Đồng thời ngài cũng chỉ ra phương thế để thực hiện bao gồm 3 bí quyết này:
* Một là: Bí tích Thánh Thể. Trong BTTT chúng ta lắng nghe tiếng Chúa; cùng nhau thân thưa với Người; được thông hiệp trọn vẹn với Chúa Kitô; được hiệp thông với mọi thành phần dân Chúa, không chỉ trong nhà thờ, trong họ đạo, mà trong toàn thể Giáo hội lữ hành và cả Giáo hội chiến thắng trên Thiên quốc.
* Hai là: Kinh Mân Côi. Kinh Mân Côi mà chúng ta đọc chung với nhau chính là lời kinh giúp chúng ta liên kết với các mầu nhiệm của Chúa Kitô và cùng với Mẹ Maria, chúng ta dựng xây tình hiệp thông trong cộng đoàn.
* Ba là: việc Bác ái. Bác ái là ơn gọi của người Kitô hữu. Bác ái giúp chúng ta mở lòng mình ra với tha nhân. Bác ái chính là phương thế tuyệt vời để giới thiệu Chúa cho tha nhân và xây dựng cộng đoàn.
4. Tạ ơn Chúa vì có những dấu hiệu của sự “xây dựng sự hiệp thông” trong gia đình họ dạo chúng ta, theo như đường hướng của Đức Thánh Cha. Những dấu hiệu đó là:
- Ngày càng có nhiều người đi tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật cũng như ngày thường.
- Ngày càng có nhiều người tham gia Lần Chuỗi tại Núi Đức Mẹ, và đến từng gia đình để cùng Lần Chuỗi chung với nhau trong tháng Mân Côi này.
- Ngày càng có nhiều người tham gia công tác Bác ái thể hiện qua nắm gạo tình thương, đặc biệt vừa qua đã có nhiều gia đình hy sinh giữ xe cho anh chị em từ xa đến tham dự Thánh Lễ An táng của Đức Cha Emmanuel.
Đó là những dấu hiệu tích cực. Chúng ta tạ ơn Chúa.
Nhưng đồng thời chúng ta xin Chúa tiếp tục mở trí, mở lòng, mở đôi tay… để không chỉ có một một phần mà là tất cả mọi thành phần của gia đình họ đạo Chánh Toà tích cực Truyền Giáo bằng cách xây dựng sự hiệp thông với 3 bí quyết mà Đức Thánh Cha đã chỉ ra cho chúng ta: Bí Tích Thánh Thể, Lời Kinh Mân Côi và Công việc Bác ái.

9.6.10

BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC CHA ANTÔN VŨ HUY CHƯƠNG

BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC CHA ANTÔN VŨ HUY CHƯƠNG
TRONG THÁNH LỄ MỪNG THỌ BÁT TUẦN
KIM KHÁNH LINH MỤC, 35 NĂM GIÁM MỤC
CỦA ĐỨC CHA EMMANUEL LÊ PHONG THUẬN
GIÁM MỤC GIÁO PHẬN CẦN THƠ
Cần Thơ, ngày 08.6.2010

Kính thưa Cộng đoàn Phụng vụ,
Là một người con của giáo phận Cần Thơ, tôi không thể từ chối lời của Ban Tổ chức đề nghị tôi chia sẻ vài tâm tình trong buổi lễ đặc biệt hôm nay.
Tôi có nhiều kỷ niệm đối với Đức Cha Emmanuel, nhưng kỷ niệm khó quên nhất là vào cuối tháng 7 năm 2003, khi Đức Cha gọi tôi ra báo tin việc Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II bổ nhiệm tôi làm giám mục giáo phận Hưng Hoá. Người hỏi tôi có đồng ý không để Người trả lời với Toà Thánh. Tôi nói: “Trước đây chỉ là tin đồn, nay đã xẩy ra thật sự ngoài điều con mong ước, xin Đức Cha chỉ dạy con”. Người nói: “Giáo phận Hưng Hoá đã trống toà 11 năm rồi, đã có nhiều giải pháp về nhân sự cho Hưng Hoá nhưng không thành. Vì ích lợi của Giáo hội nói chung, và của giáo phận Hưng Hoá nói riêng, tôi nghĩ là Cha nên đồng ý”. Tôi bật miệng nói: “Nếu con đồng ý thì con không được ở Cần Thơ nữa à ? Con phải xa Đức Cha à ?”. Thế là Người khóc, và tôi cũng khóc. Khóc thật nhiều và khóc thật tình. Chưa bao giờ cha con tỏ tình với nhau như vậy !
Vâng, từ miền cực nam của tổ quốc, tôi đã rời Cần Thơ đi lên miền cực bắc Việt Nam, để phục vụ một giáo phận nằm trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc, giáp Trung quốc và Lào ! Đến nay đã được gần 7 năm, vậy mà tôi vẫn còn nói lộn Hưng Hoá với Cần Thơ, kể cả khi cầm bản văn tiếng Pháp để trình bày với Đức Hồng Y Sepe tại nhà thờ chính toà Hưng Hóa; thay vì nói “giáo phận Hưng Hóa” (“diocèse de Hung Hoa”) tôi lại nói “diocèse de Can Tho”, thế mà linh mục thông dịch vẫn dịch sang tiếng Việt là “giáo phận Hưng Hóa” ! Tôi đã có lần kể lại những câu chuyện tương tự như thế với Đức Cha Emmanuel, Người cười rất vui, chứng tỏ Người yêu Cần Thơ hơn tôi nhiều.
Tất nhiên là “nhân vô thập toàn”, nhưng điều mà tôi đã học được nơi Đức Cha Emmanuel là tình yêu của Người đối với giáo phận, lòng nhiệt thành phục vụ giáo phận, cụ thể nhất qua việc Người luôn có mặt và luôn muốn có mặt, giữa dân của Người, trong mọi sinh hoạt, kể cả khi đau yếu.
Người đã có mặt trong các buổi cử hành phụng vụ vào các dịp lễ, như lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh, lễ Phong Chức, lễ Khấn Dòng, lễ Thêm Sức, lễ Cung hiến hoặc làm phép Nhà thờ, lễ mừng Ngân Khánh, Kim Khánh và an táng các linh mục, tu sĩ…
Người đã có mặt trong các cuộc tĩnh tâm hàng tháng của các linh mục tại các giáo hạt, và trong các buổi sinh hoạt thường huấn của từng nhóm linh mục, cũng như trong các buổi họp của các uỷ ban chuyên ngành của giáo phận.
Người đã có mặt trong đại chủng viện Thánh Quý, không những vào những ngày lễ đặc biệt, mà còn có mặt đều đặn hàng tháng, thậm chí hàng tuần, trong các buổi họp với ban đào tạo, trong các buổi huấn đức cho chủng sinh, trong các giờ lớp về môn giáo luật.
Người đã có mặt tại các tu viện trong giáo phận để hướng dẫn, bảo ban.
Người đã có mặt tại toà giám mục để động viên công việc học tập của các tu sĩ, tu sinh, của nhóm giáo dân học hỏi Lời Chúa.
Hôm nay, đã 80 tuổi tròn, đã trải qua 50 năm linh mục, 35 năm giám mục, với bao thăng trầm của lịch sử, của giáo phận, của chính bản thân Người, nhưng chính “nhờ Đức Kitô, với Đức Kitô, và trong Đức Kitô”, Người vẫn có mặt, một sự có mặt hữu hiệu, lạc quan, phó thác. Vì thế, thật là chính đáng khi hôm nay có đông đảo các giám mục, linh mục, tu sĩ, chủng sinh, tu sinh, giáo dân từ khắp nơi, có mặt nơi đây, để cùng với Đức Tổng Giám Mục Phêrô, với Đức Cha Emmanuel, dâng Thánh Lễ tạ ơn Thiên Chúa, không những vì hồng ân Chúa ban cho cá nhân Đức Cha Emmanuel, mà cũng chính “nhờ Người, với Người, và trong Người”, đã ban cho giáo phận Cần Thơ trong suốt 50 năm qua, cho Giáo hội tại Việt Nam trong thời gian Người làm Tổng Thư ký HĐGMVN.
Khi thuật lại một nét đẹp trong cuộc đời của Đức Cha Emmanuel, xem ra chúng ta đã làm theo lời Chúa dạy trong các bài đọc vừa nghe ! Chúa Giêsu dạy rằng “Anh cứ về nhà với thân nhân và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã yêu thương anh như thế nào” (Mc 5,19); và có lẽ Đức Cha Emmanuel cũng muốn mượn lời Thánh Phaolô tông đồ nói với chúng ta: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Kitô Giêsu. Quả vậy, trong Đức Kitô Giêsu (“nhờ Người, với Người, và trong Người”), anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì đuợc nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người” (1Cr 1,4-5).
Chúng ta tiếp tục dâng Thánh Lễ tạ ơn Thiên Chúa và cầu nguyện cho giáo phận Cần Thơ, cách riêng cho Đức Cha Emmanuel và Đức Cha Stêphanô, để các ngài hoàn thành sứ mạng Thiên Chúa đã trao phó, ngay cả khi không hoạt động được, nhưng vẫn hiện diện cách hiệu quả giữa dân Người. Amen.

LỜI CHÚC MỪNG ĐỨC CHA EMMANUEL

LỜI CHÚC MỪNG ĐỨC CHA EMMANUEL
Của cộng đoàn Dân Chúa Giáo phận Cần Thơ

Trọng kính Đức Cha Emmanuel,
Toàn thể Giáo phận Cần Thơ, rất hân hoan vui sướng và không ngừng tạ ơn Chúa cùng với Đức Cha về hồng ân sự sống và sự trường thọ mà Chúa đã thương ban cho Đức Cha nhân dịp: mừng Đức Cha được 80 tuổi; mừng Kim Khánh Linh Mục và 35 năm Giám Mục của Đức Cha.
Trong quãng thời gian 80 năm, Đức Cha đã cống hiến gần như suốt cả cuộc đời cho Giáo phận Cần Thơ. 15 năm trong sứ vụ linh mục vừa lo việc mục vụ vừa lo việc đào tạo các linh mục tương lai cho Giáo Hội. 15 năm làm Giám mục phó và 20 năm Giám mục Chánh Toà Giáo Phận Cần Thơ.
Với tư cách là Đấng kế vị các thánh Tông Đồ, công việc mục vụ của Đức Cha trải rộng trên một vùng đất bao la gồm thành phố Cần Thơ và 4 tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Với phương châm “Nhờ Người với Người và trong Người,” Đức Cha đã can đảm, cần mẫn, kiên trì chu toàn trọng trách Chúa trao, luôn có mặt mọi nơi và mọi lúc, trong mọi sinh hoạt của Giáo phận, để bảo vệ, dìu dắt và xây dựng cộng đoàn dân Chúa Giáo phận Cần Thơ thành cộng đoàn đức tin vững mạnh, cộng đoàn phượng tự sốt mến, cộng đoàn bác ái chan hoà.
Đức Cha rất kính mến
Hoà trong niềm vui trong dịp lễ Tạ ơn Mừng Thượng Thọ Bát Tuần; mừng Kim Khánh Linh Mục và 35 năm Giám Mục, chúng con, toàn thể Giáo phận Cần Thơ cũng muốn kính dâng lên Đức Cha lòng quý mến và biết ơn chân thành vì tất cả những gì Đức Cha đã làm và còn đang làm nhằm gìn giữ, bảo vệ và phát triển Giáo phận Cần Thơ thân thương này.
Một thoáng nhìn lại cuộc đời của Đức Cha để cùng với Đức Cha và toàn thể Giáo phận Cần Thơ tri ân cảm tạ Thiên Chúa, nhưng cũng là dịp để bày tỏ tâm tình biết ơn của đoàn con thảo kính dâng lên Đức Cha vì tất cả những gì Đức Cha đã làm và còn đang làm nhằm gìn giữ, bảo vệ và phát triển Giáo phận Cần Thơ thân thương này.
Chúng con kính dâng lên Đức Cha món quà nhỏ để bày tỏ lòng tri ân và Bó Hoa Thiêng được góp lại từ các thành phần dân Chúa trong Giáo phận Cần Thơ sau tuần Cửu nhật để cầu nguyện cho Đức Cha trong dịp kỷ niệm rất đặc biệt này:
- Dự lễ: 66.221 lần
- Rước lễ: 54.734 lần
- Lần Chuỗi: 123.561 chuỗi
- Hy sinh: 59.863 lần
- Bác ái: 45.056 lần.
Stêphanô Tri Bửu Thiên
GM Phó GP Cần Thơ

LỜI CHÚC MỪNG CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC PHÊRÔ

LỜI CHÚC MỪNG CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC PHÊRÔ NGUYỄN VĂN NHƠN
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
Trong Thánh Lễ Tạ Ơn tại Nhà thờ Chánh Toà Cần Thơ, ngày 8-6-2010.

Trọng kính Đức Cha Emmanuel, Giám mục Giáo phận Cần Thơ.

Cùng với một số anh em Giám mục thuộc 3 Giáo Tỉnh Sài Gòn, Huế, Hà Nội hiện diện trong Thánh lễ Tạ ơn trọng thể hôm nay, con xin thay mặt cho Hội đồng Giám mục Việt Nam chân thành chúc mừng Đức Cha và hiệp ý tạ ơn Chúa với Đức Cha.
Chúng con muốn bày tỏ với Đức Cha, một bậc đàn anh khả kính và gương mẫu của hàng Giám mục Việt Nam, tâm tình yêu mến, kính trọng và hân hoan của chúng con.
Đức Cha mừng lễ trong bầu khí cả Giáo hội Việt Nam đang mừng Năm Thánh 2010 và trong bầu khí Giáo hội toàn cầu cử hành Năm Linh Mục. Đời sống gương mẫu của Thánh Linh mục Gioan Maria Vianey luôn là ngọn đèn soi chiếu và hướng dẫn các Linh mục của Hội thánh.
Đức Cha được diễm phúc sống trọn 50 năm trong thánh chức và sứ vụ Linh mục, đó là một hồng ân hết sức cao quý, có giá trị như vàng và còn quý hơn vàng ròng nữa. Đức Cha lại đã thi hành sứ vụ của đấng kế vị các tông đồ suốt 35 năm trong khi Giáo hội tại Việt Nam mừng 50 năm thiết lập Hàng Giáo Phẩm.
Trong thời gian đó, Đức Cha đã có nhiều năm đảm nhận chức vụ là Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam. Chúng con chân thành cám ơn Đức Cha và hãnh diện về Đức Cha. Nguyện xin Chúa Kitô mục tử tuôn đổ dồi dào những ơn cần thiết cho suốt cuộc đời của Đức Cha.
Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
TGM Hà Nội
Chủ tịch HĐGMVN

THƯ CHÚC MỪNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTO XVI

THƯ CHÚC MỪNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTO XVI
GỞI ĐỨC CHA EMMANUEL LÊ PHONG THUẬN
Giám mục Chánh toà Cần Thơ


Hiền đệ đáng kính,
Gần đến thời điểm trọng đại trong đời Linh mục của Hiền đệ, hẳn sẽ gợi lên trong tâm trí của Hiền đệ những biến cố kể từ ngày 31 tháng Năm xưa về những dịp lễ mừng, những cột mốc đáng ghi nhớ: 80 năm đã trôi qua, khoảng thời gian đủ dài để nghiền gẫm và đánh giá về những biến cố đã qua, như cổ nhân đã nói, để “ôn cố tri tân”.
Thật vậy, Hiền đệ quên sao được những năm tháng thời thanh xuân của mình nơi Kinh thành Rôma cổ kính này, tại Đại học Urbaniana, Hiền đệ đã miệt mài trau luyện các Thánh Khoa, cách riêng môn Giáo Luật. Rồi Hiền đệ lại qua Đức Quốc để nghiên cứu chuyên sâu về môn Huấn Giáo.
Được đào tạo căn cơ như thế, Hiền đệ đã tự tin dấn thân hoạt động tông đồ cách hăng say: trở thành cộng sự viên đắc lực của Giám mục và tiếp tục đào tạo thế hệ kế thừa tại Đại Chủng Viện.
Với những nỗ lực và tài năng ngày càng được nhìn nhận, kể từ đó, Hiền đệ đã được chọn vào số những người kế nghiệp các tông đồ. Với sự chuẩn nhận của Đức Thánh Cha Phaolô đệ lục, Hiền đệ bắt đầu chức vụ Giám mục Phó của giáo phận Cần Thơ, nhờ vậy, cộng đoàn dân Chúa được che chở an toàn. Rồi sau đó, lại đảm nhận chức vụ Giám mục Chánh toà Cần Thơ. Với sự dẫn dắt khôn ngoan của Hiền đệ, cộng đoàn dân Chúa này đã chứng tỏ ngày càng hiệp nhất hơn. Chính nhờ những chủ chăn nhiệt thành và những thừa tác viên linh mục, cùng những giáo dân được đào tạo thích đáng, mà cộng đoàn dân Chúa này nức tiếng là cộng đoàn luôn “đồng tâm nhất trí”.
Chúng tôi hân hoan chúc mừng Hiền đệ trong dịp Lễ mừng Kim Khánh Linh Mục và Thượng Thọ Bát Tuần này. Nguyện xin Thiên Chúa rất nhân lành, Đấng thấu suốt mọi sự, chúc phúc cho Hiền đệ vì những đóng góp cho cộng đoàn dân Chúa Cần Thơ và xin Ngài tiếp tục gìn giữ Hiền đệ luôn hồn an xác mạnh.
Sau hết, Hiền đệ đáng kính, tôi xin gởi đến Hiền đệ, đến toàn thể cộng đoàn dân Chúa đã được ký thác cho Hiền đệ, Giáo phận Cần Thơ yêu quý, Phép lành Toà Thánh nhân dịp Lễ mừng này.

Vaticano, ngày 30 tháng Tư năm 2010
Năm thứ sáu triều đại Giáo hoàng của tôi.
Benedicto XVI
Giáo hoàng Rôma

LỜI CHÀO MỪNG ĐẦU LỄ

LỜI CHÀO MỪNG ĐẦU LỄ
CỦA ĐỨC CHA STÊPHANÔ, GIÁM MỤC PHÓ GIÁO PHẬN CẦN THƠ

Kính thưa cộng đoàn.
Giáo Phận Cần Thơ chúng ta rất hân hoan vui mừng đón tiếp quý Đức Cha từ khắp ba miền đất nước về đây tham dự Thánh Lễ mừng Thượng thọ Bát tuần, Kim Khánh Linh mục và 35 năm Giám mục của Đức Cha Emmanuel, Giám mục chánh toà Giáo phận Cần Thơ.
Tôi xin trân trọng giới thiệu:
1. Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám mục Giáo Phận Hà Nội, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và là vị chủ tế trong Thánh Lễ tạ ơn hôm nay.
2. Đức Cha Giuse Nguyễn Văn Yến - Phó Chủ tịch UB Bác Ái của HĐGMVN
3. Đức Cha Antôn Vũ Huy Chương - Giám mục Giáo phận Hưng Hóa
4. Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh - Giám mục Giáo phận Kontum
5. Đức Cha Giuse Võ Đức Minh - Giám mục Giáo phận Nha Trang
6. Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản - Giám mục Giáo phận Ban Mê Thuột
7. Đức Cha Giuse Vũ Huy Thống - Giám mục Giáo phận Phan Thiết
8. Đức Cha Tôma Vũ Đình Hiệu - Giám mục phụ tá Giáo phận Xuân Lộc
9. Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm - Giám mục phụ tá Giáo phận Sài Gòn
10. Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc - Giám mục Giáo phận Mỹ Tho
11. Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Tân - Giám mục Giáo phận Vĩnh Long
12. Đức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu - Giám mục Giáo phận Long Xuyên.
Cộng đoàn Giáo phận Cần Thơ chúng ta cũng rất hân hoan chào đón Quý Cha Tổng đại diện của các Giáo phận, Quý cha trong và ngoài Giáo phận, quý Bề trên các Dòng, Quý Khách, Quý thân nhân của Đức Cha Emmanuel, cùng toàn thể quý Ông bà anh chị em đang hiện diện trong Thánh Lễ tạ ơn đặc biệt này.
Chúng con cũng đã nhận được thư và điện thư chúc mừng của Đức Hồng Y GB. Phạm Minh Mẫn, Quý Đức Cha, Quý Cha, quý ân nhân và thân nhân xa gần, vì bận công việc nên không thể đến dự lễ Tạ ơn hôm nay.
Nguyện xin Thiên Chúa chúc phúc và ban xuống muôn ơn lành hồn xác cho Quý Đức Cha, Quý Cha, Quý Tu sĩ nam nữ, Quý ân nhân, thân nhân và tất cả mọi người đang hiện diện trong Thánh lễ hôm nay.